BÁT GIÁC PHONG 八 角 楓
Alangium chinensis (Lour) Rehd.
Tên Việt Nam: Thôi ba, Thôi chanh, Bát giác phong.
Tên khác: Bạch long tu, Bạch tử, Sơn Bá vương. Nhị trâu hồ lô, Bạch cẩm điểu. Bao tử thụ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Tên khoa học: Alangium chinensis (Lour) Rehd.
Họ khoa học: Alangiaceae.
Tên gọi: Vì rễ trắng nhiều râu nên gọi là Bạch long tu.
Mô tả: Cây gỗ mọc yếu nhưng có thể cao tới 20m, cành nằm ngang. Cành non có nhiều lông. Lá mỏng hình mắt chim nhọn đầu gốc gần hình tim thường không cân đối. Mặt lá nhiều khi có lông, gân nổi rõ cả hai mặt nhưng lồi rõ hơn ở mặt dưới. Gân giữa có 3-4 đôi gân phụ và nhiều gân song song nằm ngang. Các gân bên lại mang nhiều gân khác song song về một phía. Hoa gồm từng cụm 8-12 hoa hợp thành xim hai ngả ở nách lá. Hoa mẫu 6-8 có cuống dài. Lá bắc rễ rụng, hình dài nhọn. Cánh hoa dài và hẹp, đầu dưới thường cong cong lại, mặt ngoài có lông mềm. Quả hạch hình trái xoan hay gần hình cầu. Có hoa quả vào tháng 6-7.
Địa lý: Cây mọc phổ biến nhiều nơi ở vùng trung du, gần rừng và dọc khe suối, gò đồi.
Phần dùng làm thuốc: Dùng vỏ thân hoặc vỏ rễ có nơi dùng toàn cây.
Thu hái, sơ chế: Có thể thu hái cả 4 mùa, nhưng thường vào mùa hè. Bóc vỏ rửa sạch phơi nắng cất dùng.
Tính vị: Vị đắng, cay tính ấm. Có độc ít.
Tác dụng : Khử phong trừ thấp, hoạt huyết trấn thống, thông lâm chỉ đới.
Chủ trị:
+ Trị đau nhức xương do phong thấp, tê liệt nửa người, chấn thương do té ngã, bị đánh đập, thổ huyết, kinh nguyệt không đều, tiểu khó, bạch đới (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Cách dùng: Dùng rễ khô từ 9-15g hoặc lá thân khô 24-30g. Sắc uống cũng có thể ngâm rượu với một vài dược vật khác. Dùng thân non giac nhuyễn đắp nơi tổn thương.
Kiêng cữ: Phụ nữ có thai cấm dùng.
Tham khảo: Vỏ cây và quả có độc, khi ăn 10 quả trở nên sẽ gây loét lưỡi, bỏng niêm mạc lưỡi, xuất huyết, uống nước đun của cây này gây nôn.
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn