09:57 ICT Thứ hai, 20/05/2024

Danh mục nội dung

Liên hệ

Trang nhất » Tin Tức » Cây thuốc - Vị thuốc

Liên hệ

BỒ ĐÀO 蒲 萄

Thứ tư - 02/03/2011 10:16
Cây leo bằng cành có tua cuốn, vỏ lúc đầu màu lục màu tro sau hóa bần, bong ra thành dải mỏng.

BỒ ĐÀO   蒲 萄

Vitis vinifera L.

 

Tên Việt Nam: Cây nho.

Tên Hán Việt khác: Bồ đào, Thảo long châu, Bồ đào, Tứ tử anh đào, Mã nhũ bồ đào, Thủy tinh bồ đào, Mã nhũ bồ đào, Thủy linh bồ đào, Tử bồ đào (Bản Thảo Cương Mục), Lục bồ đào, Bồ đào can, Bồ đào thật, Tử bố đào, Bồ đào trấp (Trung Quốc Dược học Đại Từ Điển).

Tên khoa họcVitis vinifera L

Họ khoa học: Vitaceae.

Mô tả: Cây leo bằng cành có tua cuốn, vỏ lúc đầu màu lục màu tro sau hóa bần, bong ra thành dải mỏng. Lá mọc cách, thành 2 giẫy có 2 lá kèm sớm rụng, lá chân vịt, phiến lá chia 5-7 thùy khía răng không đều ở mép, cuống lá dài. Tua cuốn đối diện với lá, rẽ đôi 1-2 lần, ở chỗ rẽ có 1 lá giảm. Hoa mọc thành chùm xim 2 ngả, hoa đều, có bao hoa và bộ nhị dưới nhụy, cụm hoa tạp tính khác gốc, một số gốc mang hoa đực và hoa lưỡng tính một số gốc mang hoa cái và hoa lưỡng tính. Đài rất nhỏ hình chén, phía trên chia 5 răng. Tràng 5 rời ở gốc, liền ở ngọn. Nhị 5 xếp trước cánh hoa, bao phấn hai ô ở hoa đực và hoalưỡng tính, không sinh sản ở hoa cái. Đĩa hình nệm. Nhụy gồm hai lá noãn giống nhau, bầu thượng 2 ô, mỗi ô hai noãn bên, vòi nhụy ngắn, đầu nhụy hơi phồng. Quả mọng hình trứng, chứ 4 hạt hình quả lê, có vỏ rắn như xương. Cây này nhập nội, thường trồng làm cảnh, giàn bóng mát. Quả trồng ở nước ta ăn được nhưng hơi chua và ngứa không ngọt bằng ở Âu châu.

Địa lý: Trồng ở Đà lạt, Phan rang và một vài nơi trong nước ta.

Thu hái, sơ chế: Trái, thân, gốc có rễ. lá.

Tác dụng: Lợi gân cốt, trị tê bại, làm thuốc bổ.

Tính vị: Vị ngọt, sáp. Tính bình không độc.

Chủ trị: Gân xương tê thấp, ích khí, bồi sức, hịu được giá lạnh, tiêu hao thức ăn lợi tiểu, ăn lâu nhẹ người.

Kiêng kỵ: Có phong nhiệt, thiệt tà cấm dùng.

Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Giải khát trừ bức rức: Bồ đào sống đâm lấy nước bỏ vào chậu sành trộn chút mật ong uống (Cư Gia Bí Dụng Phương).

+ Trị đái buốt: Bồ đào giã lấy nước. Ngẫu tiết giã lấy nước, Bạch sa mật, mỗi thứ 5 tô, lần uống 1 chén lúc nóng (Thánh Huệ Phương).

(3) Có thai tức chói lên ngực sắc nước Bồ đào uống (Thánh Huệ Phương).

Tham khảo:

1) Cây Bồ đào cho rễ, dây và lá gọi là Bồ đào căn dằng diệp có tính ngọt sáp, bình, không độc, nấu nó thật kỹ uống vào trị được cầm mửa, lợm mửa sau khi bị hoắc loạn, đàn bà có thai có hơi thốc lên vùng chấn thủy uống nó thì an được thai (Mạch sằn).

2) Quả còn cùng để dầm rượu gọi là Bồ đào tửu hay rượu Nho, bằng cách dùng quả nho hoặc lấy nước của cây dây Nho dùng men mà cất thành rượu, nó có vị ngọt, cay nóng có ít độc, trị được các chứng như làm đẹp nhan sắc, ấm lưng thận, Chống lạnh. Theo lý Thời Trân thì rượu này có bệnh thuộc nhiệt và bệnh răng, lở láy thì không nên uống.

3) Những người sứ lạnh ở Âu Châu, hay phương bắc hẩm thụ khí lạnh uống vào rất tốt, còn những nười ở xứ nóng thường không hợp  uống vào không chịu hay sinh ra bệnh nóng nảy khó chịu, bức rức hay động đến đàm hỏa, người ta thường cất ra rượu thành rất quý.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Ý kiến của bạn về giao diện của website http://www.tuetinhlienhoa.com.vn?

Đẹp, duy trì giao diện như vậy

Bình thường, cần điều chỉnh

Xấu, cần thay đổi ngay

Ý kiến khác (xin gửi về email: support@tuetinhlienhoa.com.vn)

Logo Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa
Logo Cơm Chay Dưỡng Sinh Liên Hoa
Các món ăn Liên Hoa quán