02:22 ICT Thứ năm, 02/02/2023

Danh mục nội dung

Liên hệ

Trang nhất » Tin Tức » Bệnh học » XEM THEO HỆ » BỆNH HỆ NỘI TIẾT

Liên hệ

TIỂU ĐƯỜNG

Thứ ba - 14/06/2011 15:15
Tiểu đường là tên gọi bệnh do YHHĐ gần đây đặt ra, dựa theo triệu chứng gia tăng lượng đường trong máu và nước tiểu. Các tài liệu cổ xưa về YHCT không có tên bệnh này.

TIỂU ĐƯỜNG

(Diabetes Mellitus, Diabète sucré )

 

Đại Cương

 

Tiểu đường là tên gọi bệnh do YHHĐ gần đây đặt ra, dựa theo triệu chứng gia tăng lượng đường trong máu và nước tiểu.  Các tài liệu cổ xưa về YHCT không có tên bệnh này. Đây là một loại bệnh  do rối loạn chuyển hóa chất Hydrat cacbon làm cho  Insulin bị giảm thiểu mà đặc điểm chủ yếu là đường huyết tăng cao (Hyperglycemia) và xuất hiện đường trong nước tiểu. Lúc bệnh mới phát thường không có triệu chứng rõ rệt. Sau một thời gian mới xuất hiện 3 triệu chứng rõ nét: uống nhiều, ăn nhiều và tiểu nhiều, mệt mỏi, khát nước, chóng đói...

Từ Tiểu đường trước đây được dùng để chỉ người có đường trong nước tiểu, hiện nay không còn đúng nữa, vì chỉ khi nào lượng đường trong máu cao hơn 180mg/dl, quá khả năng tái hấp thụ của Thận thì đường mới theo nước tiểu ra ngoài. Vì vậy, đúng ra phải gọi đây là Bệnh Đường Huyết Cao.

Bình thường, trong quá trình tiêu hoá, các loại thức ăn có nguồn gốc từ Glucid vào dạ dầy, ruột, được biến đổi thành một loại đường đơn giản gọi là Glucose và được hấp thụ vào máu. Khi Glucose hiện diện trong máu, lượng đường huyết tăng, nội tiết từ tuyến Tuỵ là Insulin sẽ giúp Glucose từ máu thâm nhập vào tế bào khiến cho lượng đường huyết hạ xuống và Glucose vào tế bào sẽ tạo năng lượng cho tế bào hoạt động. Tế bào sử dụng Glucose làm nhiên liệu và nhiệm vụ của Insulin là giúp cho tế bào luôn được cung cấp nhiên liệu bất kể ngày đêm và lượng đường huyết ổn định trong giới hạn cho phép từ 70 ~115mg%. Nếu lượng đường huyết cao quá giới hạn thì đượng bị thải ra nước tiểu, gọi là Tiểu Đường.

Thiên ‘Kỳ Bệnh Luận’ (Tố Vấn 47) viết: ‘Ăn nhiều chất béo ngọt sinh mập, chất béo sinh nội nhiệt, chất ngọt gây trung mãn, khí trào lên mà sinh chứng tiêu khát’.

Sách ‘Ngoại Đài Bí Yếu ‘ ghi : ‘Khát mà uống nhiều nước, tiểu nhiều... đều là bệnh tiêu khát’... ‘Chứng tiêu khát là do Thận hư, nước tiểu ngọt’.

Sách ‘Y Học Tâm Ngộ ‘ viết : ‘Uống nhiều là thượng tiêu, tiêu cốc, mau đói là trung tiêu, miệng khát, tiểu nhiều,  tiểu đục là hạ tiêu’.

Bệnh có liên hệ đến ba tạng là Phế, Vị và Thận. Vì nhiệt nung nấu lâu ngày nên phần âm bị suy yếu, sự chuyển vận dưỡng chất rối loạn gây nên ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều hoặc cơ thể gầy ốm.

Bệnh tiểu đường dễ kèm theo những bệnh nhiễm khuẩn hóa mủ ngoài da, nhiễm khuẩn tiết niệu, lao. . .

Hiện nay, tính trung bình trong cả nước Việt Nam có 1% dân số bị tiểu đường.

Đây là một bệnh mạn tính và có nhiều khả năng gây những biến chứng nguy hiểm đến tính mạng như Thiếu máu cơ tim (34,7%), Suy thận (2,9%), Đột quỵ, Liệt nửa người (22%), Hôn mê do tiểu đường (3,1%), Các loại nhiễm trùng khác (6,7%)… Tuy nhiên, nếu có sự hiểu biết về tiểu đường thì người bệnh có thể chung sống hoà bình với tiểu đường mà không bị hạn chế về hoạt động thể lực, trí lực trong cuộc sống.

Đông Y gọi là Tiêu Khát, Đường Niệu Bệnh.

 

Phân Loại

 

Tiểu đường thường được chia làm 2 loại:

Tiểu đường loại I (phụ thuộc Insulin - IDDM ). Xẩy ra khi tế bào Beta của Tuỵ tạng không còn khả năng tiết ra Insulin. Cần phải sử dụng Insulin  ngoại sinh để giảm đường huyết và ngăn ngừa nhiễm acid Cetone do tiểu đường và duy trì sự sống. Thường gặp nhất ở trẻ em và người lớn, trẻ tuổi và cũng có thể gặp ở mọi lứa tuổi.

Tiểu đường loại II (không phụ thuộc Insulin - NIDDM ) Xẩy ra khi các tế bào cơ thể trở nên đề kháng với Insulin. Thường gặp ở người bệnh sau 40 tuổi, cũng có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Thường hay gặp ở bệnh nhân béo phì, nhiều trường hợp dùng Insulin  không hiệu nghiệm.

 

Nguyên Nhân

 

Cho đến nay nguyên nhân bệnh tiểu đường nguyên phát vẫn chưa được xác định rõ ràng.  Một số yếu tố được ghi nhận:

+ Di truyền gia đình: khoảng 1/4 bệnh nhân trong gia đình có người mắc bệnh tiểu đường. Đứa con thường mắc cùng loại tiểu đường như mẹ chúng. Nếu mẹ mắc bệnh tiểu đường vào lúc 8 tuổi thì thường đứa con cũng sẽ phát bệnh vào tuổi đó. Tuy nhiên xác suất thực tế con cái họ mắc bệnh tiểu đường là không quá 10%.

Ngoài ra người ta cũng nhận xét có những yếu tố có ảnh hưởng đến sinh bệnh tiểu đường như :

. Ăn nhiều chất béo làm tăng gánh nặng cho tuyến tụy.

. Tinh thần bị kích động mạnh và bệnh ở não làm cho chức năng của thần kinh cao cấp rối loạn mà dẫn đến sự rối loạn của chuyển hóa đường.

. Nhiều lần có thai, nhiễm khuẩn, dùng nhiều và trong thời gian dài các chất Corticoid cũng đều làm cho Insulin giảm tiết.

 

Theo YHCT:

Chủ yếu do người bệnh vốn bị âm hư, ngũ tạng đều suy yếu, tình chí không đều hòa, ăn uống không điều độ, mệt mỏi quá sức gây nên.

Các y gia đời Đường, Trung Quốc đã biết nếm nước tiểu ngọt là chứng tiêu khát. Chương ‘Tiêu Khát’ (Ngoại Đài Bí Yếu) còn ghi: “Chứng tiêu khát là do Thận hư, nước tiểu ngọt”.

 

1- Chấn Thương Tinh Thần : Tinh thần bị kích thích đột ngột hoặc tức giận  lâu ngày, gây nên Can khí uất kết hóa hỏa nung đốt Phế âm, Vị âm sinh ra Phế táo, âm hư. Can khí phạm Vị hóa nhiệt gây nên Vị âm hư. Phế bị táo sẽ mất chức năng trị tiết, không thể vận chuyển các dưỡng chất đi khắp cơ thể. Các chất này sẽ chuyển thẳng xuống bàng quang gây nên chứng khát nhiều, tiểu nhiều, trong nước tiểu có vị ngọt. Sách ‘Y Học Cương Mục’ viết: “Phế bị bệnh thì không quản lý được tân dịch, các tinh chất sẽ bài tiết ra đường tiểu. Thường là uống một, tiểu gấp đôi, nước tiểu đặc như dầu, như cao. Vì Phế bị táo, Phế âm sẽ bất túc nên Thận bị mất sự hỗ trợ mà suy yếu đi, tân dịch không chuyển lên Phế và Vị được, tinh chất sẽ chuyển xuống Bàng quang gây nên khát, tiểu nhiều nhưng trong nước tiểu có vẩn đục, thành ra chứng tiêu khát”.

Phế và Vị âm hư đều dẫn đến Thận âm hư mà sinh chứng tiêu khát. Sách ‘Tuyên Minh Luận’ viết : “Tiêu khát là tinh thần bị hao tổn, rối loạn quá độ mà sinh ra”.

Sách ‘Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận’ cũng cho rằng do “Can khí uất kết, uất trệ sinh Nhiệt, hỏa, táo thương âm. . . sinh ra miệng khát, uống nhiều, hay đói”.

2- Ăn uống nhiều chất béo ngọt, uống nhiều rượu đều gây nên tỳ vị tích nhiệt, tiêu hao ngũ cốc nên mau đói. Vị hỏa nung nấu bốc lên hun đốt Tỳ âm, Phế, làm mất chức năng phân bố, tinh chất không nuôi dưỡng được cơ thể gây nên gầy ốm. Vị nhiệt quá thịnh, Vị hỏa làøm tổn thương Phế âm, Phế âm bất túc cũng dẫn đến Thận âm hư sinh chứng tiêu khát.

Thiên ‘Kỳ Bệnh Luận’ (Tố Vấn 47) ghi:  “Ăn nhiều chất béo ngọt sinh mập, chất béo sinh nội nhiệt, chất ngọt gây trung mãn, khí trào lên mà sinh chứng tiêu khát”.

Sách 'Y Môn Pháp Luật’ viết : ‘Ăn quá nhiều thức ăn ngọt, béo gây nên nhiệt bên trong, tân dịch khô, khát nước, uống vào bị đốt hết gây ra khát... ‘.

3. Lao động quá sức, làm tổn thương chân âm, phòng dục quá độ gây hao tổn Thận âm. Thận âm bị tổn thương sẽ mất chức năng cố nhiếp gây ra tiểu đục, nước tiểu có vị ngọt. Âm hư thì hỏa vượng bốc lên nung đốt phế vị nên mới khát, uống nhiều, dẫn đến kết quả là Thận âm hư, Phế táo, Vị bị nhiệt sinh ra chứng tiêu khát.

Mắc bệnh lâu ngày, âm hư dẫn đến dương hư và âm dương đều hư, bệnh ngày càng trầm trọng.

Tóm lại, nguyên nhân chính của bệnh Tiêu khát là do Phế táo, Vị nhiệt và Thận hư. Nguyên nhân gây nên Phế táo, Vị nhiệt và Thận hư là do phần âm suy tổn. Sách ‘Lâm Chứng Chỉ Nam’ viết: “Chứng tam tiêu tuy chia ra Thượng, Trung và Hạ nhưng không vượt ra khỏi phạm vi âm suy, dương thịnh, tân dịch khô, nhiệt quấy rối mà thôi”.

Âm suy chủ yếu liên hệ đến Thận, nếu Thận âm bất túc thì hỏa của Phế, Vị sẽ vượng. Ngược lại, Phế Vị nhiệt thịnh làm cho tân dịch suy, cũng làm cho Thận âm bất túc.

Tóm lại, theo y học cổ truyền thì nguyên nhân bệnh chủ yếu do : bẩm thụ âm hư, ăn uống không điều độ hoặc do tình chí rối loạn.

 

Biến Chứng

 

. Mụn nhọt, dễ nhiễm khuẩn khi bị xây xát.

. Lao phổi.

. Xơ cứng mạch máu, huyết áp tăng, xơ cứng mạch vành, viêm động mạch, nhồi máu cơ tim, xuất huyết náo.

. Mắt:  Viêm võng mạc, Viêm thị thần kinh, Viêm giác mạc, Chắp mắt, Đục thủy tinh thể.

. Thần kinh:

Phản xạ gân xương giảm.

Liệt một chi, Liệt ½ người, Liệt khu vực.

Rối loạn thần kinh thực vật, ra mồ hôi nhiều.

Liệt dương.

Gan to, cứng và chắc. Chức năng gan giảm.

Viêm túi mật.

Thận hư, Thận thoái hóa, Thận viêm, tiến dần đến suy Thận.

 

Chẩn Đoán

 

+ Dựa vào triệu chứng tăng đường huyết: Ăn nhiều, Uống nhiều, Tiểu nhiều.

+ Xét nghiệm máu lúc đói: Lượng đường cao trên 135mg%, sau ăn 2 giờ trên 160 - 180mg%. Nghiệm pháp dung nạp Glucose bằng đường uống (lúc xét nghiệm đường máu khi đói không giúp xác định chẩn đoán bệnh). Nghiệm pháp chỉ có giá trị khi bệnh nhân không có stress, hoạt động thể lực không giảm đi và lượng Carbohydrate ăn hàng ngày nhiều hơn 150g. Đối với bệnh nhân không mang thai, cho 75g Glucose vào buổi sáng sau một đêm nhịn ăn. Định lượng đường huyết lúc bắt đầu và cứ mỗi nửa giờ trong 2 giờ sau khi cho Glucose. Kết quả bình thường khi:

. Đường huyết lúc đói thấp hơn 115mg%.

. Đường huyết sau 2 giờ cho Glucose thấp hơn 140mg%.

. Không có kết quả định lượng đường huyết nào lớn hơn 200mg%.

Đối với phụ nữ có thai, tiêu chuẩn chẩn đoán thay đổi.

Đối với nghiệm pháp tăng Glucoz huyết bằng cách uống:

- Glucoz huyết dưới 1,4g/l hai giờ sau khi uống 75g Glucoz, tương ứng với sự dung nạp bình thường của Glucoz.

- Glucoz huyết giữa 1.4g/l và 2g/l hai giờ sau khi uống 75g Glucoz nói lên cơ thể không dung nạp Glucoz.

Theo tiêu chuẩn mới hiện nay: Glucoz huyết bụng đói dưới 1,1g/l được coi là bình thường; Giữa 1,1g/l với 1,26g/l được coi là bất thường và chưa được gọi thực sự là Tiểu đường.

+ Xét nghiệm nước tiểu (dương tính): Glucoza xuất hiện (Bình thường không có), lượng Glucoza nhiều ít tùy bệnh.

+ Kiến bu vào chỗ nước tiểu.

 

 

Bảng Tiêu Chuẩn Chẩn Đoán Theo ADA 1996

 

Glucoz Huyết Bụng Đói

G/l (mmol/l)

Glucoz Huyết 2 giờ sau khi uống 75g Glucoz g/l (mmol/l)

>1,4 (7,8)

1,4 (7,8) – 2 (11,1)

 2±(11,1)

> 1,05 (5,8)

1,05 (5,8) - 1,25 (6,9)

 1,26³(6,9)

Bình thường

Tăng Glucoz huyết

Tiểu đường

Không dung nạp Glucid

Không dung nạp Glucid

Tiểu đường

Tiểu đường

Tiểu đường

Tiểu đường

 

Biện Chứng Luận Trị

 

Đặc trưng của bệnh này là khát nước, uống nhiều, ăn nhiều mà vẫn ốm yếu, tiểu nhiều lần, lượng nước tiểu nhiều. Trên lâm sàng, thường chia làm Thượng tiêu, Trung tiêu và Hạ tiêu để luận trị.

+ Khát nhiều, uống nhiều, bệnh thuộc thượng tiêu. Điều trị nên dùng phương pháp nhuận Phế kèm thanh Vị nhiệt.

+ Ăn nhiều, mau đói, bệnh thuộc trung tiêu. Điều trị nên dùng phép Thanh Vị kèm tư Thận âm.

+ Tiểu nhiều, bệnh thuộc hạ tiêu. Điều trị nên dùng phép tư Thận kèm dưỡng Phế âm.

Trên lâm sàng ba chứng này gặp cùng một lúc, tuy nhiên cần dựa vào chứng trạng nào trội vượt hơn để luận trị cho thích hợp.

 

Triệu Chứng Lâm Sàng

 

A- Theo YHHĐ

Tiểu đường là một bệnh mạn tính tiến triển, thời kỳ  đầu khó phát hiện. Quá trình bệnh có thể chia làm 2 giai đoạn :

1- Thời kỳ không có triệu chứng : Phần lớn bệnh nhân trên 40 tuổi, người thường mập, tinh thần thể lực bình thường. Có thể có mụn nhọt hay tái phát hoặc huyết áp cao, có bệnh động mạch vành, đục nhân mắt, hoặc ngẫu nhiên kiểm tra sức khỏe phát hiện đường niệu hoặc đường máu cao.

2. Thời kỳ có triệu chứng : Những triệu chứng điển hình là uống nhiều, khát, tiểu nhiều, ăn nhiều, chóng đói, mà người sụt cân (cũng có người mập) dễ mệt mỏi. Những chứng kèm theo thường gặp : dễ bị ngứa ở âm hộ (đối với phụ nữ), da khô (do mất nước), ngứa toàn thân, dễ sinh mụn nhọt ngoài da, mắc bệnh lao phổi uống thuốc chống lao không khỏi, hoặc đục nhân mắt, mắt mờ, những triệu chứng viêm thần kinh ngoại vi như đau, tê, mất cảm giác sờ, hoặc chân phù, đầu chi loét. Có triệu chứng nhiễm Cetone-acid như chán ăn, nôn, buồn nôn, đau bụng, bệnh nặng thì hôn mê.

 

Những triệu chứng cần chú ý:

+ Hay Đi Tiểu: Tiểu nhiều lần cả ngày lẫn đêm.

+ Khát: Thích uống rất nhiều nước, vừa uống xong lại có thể khát muốn uống tiếp.

+ Cảm Giác Đói Liên Tục kèm tình trạng tụt cân hoặc lên cân không giải thích được. Tuy nhiên bệnh Tiểu đường Type II nhiều khi không có cảm giác đói.

+ Dấu Hiệu Ngoài Da: Vì bệnh tiểu đường ảnh hưởng đến các mạch máu, nếu nguồn cung cấp máu có trở ngại thì da trở thnàh khô và có cảm giác ngứa, nhất là quanh bộ phận sinh dục và hậu môn. Da có thể bị nhiễm trùng, ung nhọt, vết thương khó lành.

+ Đau Chân: lượng đường trong máu cao sẽ làm tổn thương thần kinh khiến người bệnh cảm thấy đau nhức ở chân.

+ Mắt Mờ: có thể áp suất ở nhãn cầu cũng cao, gây nên mờ mắt, hình ảnh bị méo mó. Nếu điều trị kịp thời có thể thay đổi được, nếu không trị đúng mức, mắt có thể bị thoái hoá gây mù loà.

+ Mệt Mỏi: đôi khi đến rất chậm, có khi hàng tuần hoặc hàng tháng người bệnh mới cảm nhận được.

 

Những Dấu Hiệu Báo Động Bệnh Tiểu Đường

 

Bệnh Tiểu Đường Gầy (Type I)

Bệnh Tiểu Đường Ở Người Lớn Tuổi (Type 2)

. Sụt cân

. Những người huyết áp cao trên 140/90, có mỡ trong máu.

. Mệt mỏi thường xuyên.

. Thường bị vọp bẻ (chuột rút) khi đi.

. Khát, uống nhiều.

. Đau ngực.

. Tiểu nhiều.

. Phụ nữ sinh con quá to trên 4,5kg hoặc nhỏ hơn 2kg.

 

Theo YHCT: hiện nay, các sách giáo khoa Đông Y thường chia làm 3 thể bệnh là thượng tiêu, trung tiêu. hạ tiêu để luận trị. Khát uống nước nhiều là triệu chứng nổi bật thuộc thượng tiêu; Ăn nhiều và chóng đói thuộc trung tiêu. Tiểu nhiều nổi bật, thuộc hạ tiêu. Nhưng cũng nhiều lúc gồm cả ba mặt cùng lúc, không có mặt nổi rõ thì trong luận trị cần chú ý cả ba mặt.

 

1- Chứng Thượng Tiêu: Khát nhiều, thích uống nước, họng táo, miệng khô, đi tiểu nhiều lần, lượng nhiều, đầu lưỡi và quanh lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng, mạch Hồng Sác.

Điều trị : Thanh nhiệt, nhuận phế, sinh tân, chỉ khát.

Dùng bài Tiêu Khát Phương (Đan Khê Tâm Pháp): Hoàng liên, Thiên hoa phấn, Mạch môn, Thiên môn, Sinh địa trấp, Ngẫu trấp (nước cốt Ngó sen), Ngưu nhũ (sữa Trâu) hợp Nhân Sâm Bạch Hổ Thang (Kim Quỹ Yếu Lược): Thạch cao, Nhân sâm, Tri mẫu, Cam thảo).

(Trong bài: Thạch cao, Tri mẫu, Nhân sâm thanh phế vị, ích khí, sinh tân; Thiên hoa phấn, Sinh địa, Ngẫu trấp dưỡng âm, thanh nhiệt, sinh tân, chỉ khát; Hoàng liên thanh nhiệt, giáng hỏa; Mạch môn, Thiên môn nhuận phế, thanh nhiệt).

 

2. Chứng Trung Tiêu : Ăn nhiều, chóng đói, người gầy ốm, táo bón, rêu lưỡi vàng khô, mạch Hoạt có lực.

Điều trị : Thanh vị, tả hỏa, dưỡng âm, tăng dịch. Dùng bài Ngọc Nữ Tiễn (Thạch cao, Tri mẫu, Sinh địa, Mạch môn), thêm Hoàng cầm, Sơn chi.

(Trong bài, Thạch cao, Tri mẫu thanh nhiệt ở Phế Vị; Sinh địa, Mạch môn tư dưỡng Phế âm; Hoàng cầm, Chi tử thanh nhiệt; Ngưu tất dẫn hỏa đi xuống).

 

3. Chứng Hạ Tiêu : Tiểu nhiều lần, lượng nhiều, nước tiểu đục như cao hoặc có vị ngọt, miệng khô, lưỡi táo hoặc khát uống nước nhiều, lòng bàn chân tay nóng, lưng gối nhức mỏi, thân lưỡi thon, ít rêu, mạch Tế Sác, vô lực.

Điều trị : Tư bổ Thận âm, sinh tân, thanh nhiệt. Dùng bài : Lục Vị Địa Hoàng Hoàn (Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết): Thục địa, Sơn dược, Sơn thù, Đơn bì, Trạch tả, Bạch linh để tư bổ Thận âm.

Trường hợp khí âm hư thêm Nhân sâm, Hoàng kỳ để bổ khí. Sắc mặt tối sạm, uống vào bao nhiêu tiểu ra bấy nhiêu, dương suy, sợ lạnh, mạch Trầm Tế vô lực. Thận dương cũng hư suy. Nên dùng bài Kim Quỹ Thận Khí Hoàn (Thục địa, Sơn dược, Sơn thù, Đơn bì, Trạch tả, Bạch linh, Nhục quế, Phụ tử).

 

Ba thể bệnh của chứng tiêu khát tuy mỗi thể có đặc điểm riêng, thể thượng tiêu chủ yếu là Phế táo, thể trung tiêu chủ yếu là Vị nhiệt, thể hạ tiêu chủ yếu là Thận âm hư, nhưng cả ba thể đều có đặc điểm chung là âm hư táo nhiệt vì vậy phép trị chủ  yếu đối với chứng tiêu khát là bổ âm, thanh nhiệt.

 

Điều Trị Kiêm Chứng Và Biến Chứng

 

+ Hồi Hộp, Mất Ngủ: do âm hư tân dịch tổn thương, táo bón, dễ sinh lở nhọt, lưỡi đỏ,  rêu vàng, mạch Tế Sác.

Điều trị : Ích khí, dưỡng huyết, tư âm, thanh nhiệt. Dùng bài  Thiên Vương Bổ Tâm Đơn (Nhân sâm, Huyền sâm, Đan sâm, Phục thần, Viễn chí, Cát cánh, Ngũ vị tử, Đương quy, Thiên đông, Mạch đông, Bá tử nhân, Táo nhân, Sinh địa, Chu sa).

+ Đau Thắt Ngực (do thiếu máu cơ tim, bệnh động mạch vành…), điều trị theo bệnh thiếu máu cơ tim, bệnh động mạch vành.

+ Đau Sườn : Thường đau vùng sườn hoặc vùng bụng trên bên phải cần nghĩ đến viêm gan, viêm túi mật hoặc sỏi mật, cần kiểm tra thêm để xác định chẩn đoán.

 

Biện chứng luận trị chú ý 2 thể bệnh :

. Can Âm Bất Túc : Vùng sườn đau âm ỉ, miệng khô,  họng khô, họng đau, váng đầu, hoa mắt, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Huyền Tế Sác.

Điều trị : Tư âm, dưỡng Can. Dùng bài Gia Vị Nhất Quán Tiễn (Sinh địa, Sa sâm, Mạch đông, Đương quy, Uất kim, Bạch thược, Xuyên luyện tử).

. Thấp Nhiệt : Sườn đau, miệng đắng, ăn ít, sợ dầu mỡ, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt, mạch Huyền Họat Sác.

Điều trị: Sơ Can lợi Đởm, thanh nhiệt hóa thấp. Dùng bài Sơ Can Lợi Đởm Thang (Sài hồ, Chỉ xác, Xích thược, Cam thảo, Mộc hương, Hoàng cầm, Hoàng liên, Thục đại hoàng, Nội kim, Uất kim, Xuyên phác, Sơn tra).

+ Váng Đầu (Huyễn Vựng) : thường do cao huyết áp  hoặc bệnh đốt sống cổ. Biện chứng luận trị theo 2 thể bệnh :

. Can Dương Thượng Kháng : Chóng mặt ù tai, đau căng, đầu nặng hơn lúc tinh thần căng thẳng, nóng nảy dễ gắt, miệng đắng, họng khô, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch Huyền.

Điều trị : Bình can, tiềm dương. Dùng bài: Thiên Ma Câu Đằng Ẩm (Thiên ma, Câu đằng, Hoàng cầm, Ngưu tất, Đỗ trọng, Thảo quyết minh, Tang ký sinh, Sơn chi, Ích mẫu thảo, Dạ giao đằng, Phục thần).

. Đờm Trọc : Váng đầu, buồn ngủ, ngưc bụng đầy tức, ăn ít, buồn nôn, lưỡi nhạt, rêu nhớt, mạch Hoạt.

Điều trị : Hóa đờm, giáng nghịch. Dùng bài Bán Hạ Bạch Truật Thiên Ma Thang (Pháp bán hạ, Bạch truật, Thiên ma, Trần bì, Cam thảo, Phục linh).

. Táo Bón : Do âm hư táo nhiệt, nhiệt kết đại tràng nên đại tiện khó.

Điều trị : Tư âm nhuận tràng. Dùng bài Ma Nhân Hoàn (Ma tử nhân, Hạnh nhân, Hậu phác, Đại hoàng, Chỉ thực, Thược dược), hoặc bài Tăng Dịch Thừa Khí Thang (Sinh địa, Mạch môn, Huyền sâm, Thục đại hoàng, Chỉ xác, Xuyên phác).

. Nhọt Lở Loét : Thường hay tái phát khó khỏi, răng lợi sưng đau, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch Sác.

Điều trị : Thanh nhiệt giải độc. Dùng bài Ngũ Vị Tiêu Độc Ẩm (Kim ngân hoa, Cúc hoa, Bồ công anh, Huyền sâm, Hạ khô thảo).

. Đục Nhân Mắt : Bệnh lâu ngày gây đục nhân mắt, thị lực giảm, ù tai, điếc, lưỡi đỏ tối, mạch Trầm Tế.

Điều trị : Tư dưỡng can Thận. Dùng bài Minh Mục Địa Hoàng Hoàn (Thục địa,  Sơn thù, Sơn dược, Phục linh, Đơn bì, Trạch tả, Đương quy, Bạch thược, Câu kỷ, Cúc hoa, Bạch tật lê, Thạch quyết minh).

. Chân Tay Tê Dại : Thường gặp là viêm thần kinh, chân tay mêt mỏi, cơ teo, đầu chân tay tê dại, đi không vững, lưỡi nhợt, rêu mỏng vàng, mạch Trầm Tế.

Điều trị : Bổ huyết thông lạc. Dùng bài Tứ Vật Ngũ Đằng Thang (Sinh địa, Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung, Kê huyết đằng, Lạc thạch đằng, Hoạt huyết đằng, Nhẫn đông đằng, Câu đằng).

. Ho Lao (Lao Khái) : ho khan ít đờm, trong đờm có máu, ngũ tâm phiền nhiệt, sốt về chiều,  gò má đỏ, mồ hôi trộm, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tế Sác.

Điều trị : Dưỡng âm thanh nhiệt, nhuận phế, chỉ khái. Dùng bài Bách Hợp Cố Kim Thang (Sinh địa, Thục địa, Mạch môn, Xuyên bối, Bách hợp, Đương quy, Bạch thược, Huyền sâm, Cát cánh, Cam thảo).

. Hôn Mê : Là trạng thái nhiễm cetone-acid, bệnh nhân bứt rứt, hôn mê hoặc hôn quyết (hôn mê co giật), chân tay lạnh, mạch Vi khó bắt, đó là triệu chứng âm dương quyết thoát.

Biện chứng phân ra : vong âm và vong dương.

. Vong Âm: có triệu chứng sốt cao, miệng khát, thở thô, mồ hôí nhiều, hôn mê nói  sảng, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch Hư Sác.

. Vong dương: có triệu chứng không muốn ăn, buồn nôn, nôn. Nôn ra đờm rãi, mồ hôi lạnh, tinh thần mệt mỏi, nặng thì hôn mê, chân tay quyết lạnh, lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch Vi muốn tuyệt.

Điều trị : (a) Vong dương : hồi dương cứu nghịch.

Dùng các bài : Độc Sâm Thang, Sâm Phụ Thang, Tứ Nghịch Thang (phụ tử, can khương, chích thảo).

(b) Vong Âm: ích khí dưỡng âm, cố thoát. Dùng các bài : Độc Sâm Hộ Âm Thang (Tây dương sâm 100g sắc uống), Tam Giáp Phục Mạch Thang (Chích thảo, Sinh địa, Bạch thược, Mạch đông, A giao, Ma nhân, sinh Mẫu lệ, Qui bản, Miết giáp, hoặc chích tĩnh mạch thuốc tiêm Sinh Mạch Tán.

Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn có nhận xét gì về phiên bản website mới của chúng tôi?

Tốt

Khá

Trung Bình

Kém

Logo Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa
Logo Cơm Chay Dưỡng Sinh Liên Hoa
Các món ăn Liên Hoa quán