22:41 EST Thứ năm, 04/03/2021

Danh mục nội dung

Liên hệ

Trang nhất » Tin Tức » Thư viện Đông y

Liên hệ

Vệ sinh yếu quyết diễn ca

Thứ ba - 18/06/2013 05:02
Để cho nam nữ trẻ gia đều hay

Tấc lòng tâm niệm bấy nay

Mong đời hết bệnh kéo dài ngày xuân

Dưỡng sinh theo phép Chân nhân(1)

Sách trên đã chép nguyên văn mấy bài

Để tuỳ hoàn cảnh tuỳ thời

Tuỳ nghi lĩnh hội những lời tinh ba

Quyển này đúc lại thành ca

Mấy lời thiết yếu để ta ghi lòng

Bao gồm phương pháp dự phòng

Cổ kim dung hợp quán thông dung hoà

2. Thuật cổ

Nội kinh thiên một, hai, ba(2)

Nhiếp sinh di dưỡng(3) đề ra hàng đầu

Cổ nhân dạy nhủ đời sau

Biết gìn giữ trước khỏi sầu bệnh nguy

Đời xưa các bậc thánh tri

Chữa khi chưa bệnh có gì khó khăn

Đau rồi tiếc của thương thân

Khác gì khi loạn thấy cần đúc gươm

Đề phòng bệnh hoạn đau thương

Là điều thiết yếu ngày thường phải lo

Nhiếp sinh phép có từ xưa

Âm dương thời tiết bốn mùa thuận theo

Tu thân dưỡng tính đôi chiều

Điều hoà thuật số(4) bấy nhiêu phép mà

Noi xưa ăn ở thật thà

Chẳng vì danh lợi bôn ba nhọc lòng

-----------

1) Chân nhân: người nắm vững huyền cơ tạo hoá, quy luật biến hoá âm dương

2) Thiên thượng cổ thiên chân luận. Tứ khí điều thần luận và Sinh khí thông thiên luận

3) Nhiếp sinh là chăm giữ sức khoẻ. Di dưỡng là nuôi nấng. Dưỡng sinh bao gồm cách nuôi nấng, ra dưỡng, giữ gìn sức khoẻ để sống lâu

Lao tâm chẳng phải đề phòng

Sáng làm tối nghỉ thong dong khoẻ người

Khởi cư gìn giữ theo thời

Uống ăn điều độ đua chơi chẳng cần

Cho nên hình thể, tinh thần

Trong ngoài đều mạnh, bình an thọ trường

Tuổi trời hưởng hết là thường

Chẳng lo chết yểu vì chưng biết phòng

Đời nay trái người cổ phong

Rượu chè trác táng làm xằng kể chi

No say phòng dục đôi khi

Chân Nguyên(1) hao tán chỉ vì kiệt tinh

Tinh vơi nghiêng động thần minh

Thoả lòng, trái đạo dưỡng sinh còn gì!

Năm mươi tuổi đã thấy suy

Vì chưng tửu sắc khởi cư không chừng

Người xưa dạy cách đề phòng

Tuỳ thời mà tránh "tặc phong hư tà"(2)

Muốn cho chân khí điều hoà

Sửa mình trong sạch (3) hư vô trong lòng

Tinh thần giữ vững ở trong

Bệnh nào xâm được chẳng phòng cũng an

Chí nhân, lòng chẳng muốn tham

Có gì lo sợ tà(4) xâm hại minh

Chớ nên quá nhọc thân mình

Làm gì mà chẳng mệt thì mình vân vui

Mọi điều vừa phải thì thôi

Muốn gì cũng được chẳng đòi hỏi hơn

Ăn thường mà vẫn thấy ngon

Mặc gì cũng đẹp vui quen với đời

Chẳng hề tranh cạnh đua đòi

Mọi người chất phác chẳng nài dưới trên

Mắt trông chẳng muốn chẳng thèm

Dâm tà đâu dễ quấy phiền lòng ta

___________

1) Chân khí cũng là gọi là nguyên khí, chính khí, đó là tinh khí tiên thiên họp cùng cốc khí hậu thiên mà thành, vật chất chủ yếu duy trì cuộc sống

2) Gió độc thừa cơ người yếu xâm vào nhà mà gây bệnh

3) Không có tham vọng bậy bà coi có cũng như không

4) Tác nhân gây bệnh

5) Tâm dị túc cố sở nguyên tắt lòng, bất dị cần cô vô nan đắc dã (Nội kinh yếu chỉ tr78)

6) Những điều không chính đáng, tà dâm. Thị dục bất năng lao kỳ mục, dâm tà bất năng hoặc kỳ tâm (NKYC tr78)

Bất kỳ kẻ khéo người ngu

Ai mà biết giữ chẳng lo sợ gì

Trăm năm động tác chẳng suy

Dưỡng sinh trọn đạo chẳng nguy chút nào

3. Khi cư (sinh hoạt)

Khởi cư: Xuất nhập (1) hàng đầu

Thuận theo động tĩnh của bầu thiên nhiên

Âm dương (2) vận chuyển ngày đêm

Bốn mùa thời tiết luân phiên chẳng nhầm

Xưa rằng : "sáng dậy đêm nằm

Ngày làm tối nghỉ là vâng mệnh trời

Cũng là cương kỷ của người

Khuyên ai dậy sớm, chớ ngồi thâu canh" (4)

Cần lao cung ứng nhu cầu

Ở đời muốn sống dễ hầu ngồi dưng

Cần lao thân thể khang cường

Tinh thần vui vẻ gân xương chuyển đều

Nhàn cư bất thiện mọi điều

Nghĩ thầm làm bậy, đói nghèo theo thân

Nhàn cư ủ rũ tinh thần

Nằm nhiều khí huyết kém phần lưu thông

Còn như làm việc không chừng

Cũng là trái với lẽ thường chẳng nên

Ham mê, mưu lự thâu đêm

Lao tâm, lao lực, không quên phòng ngừa

Thuận theo thời tiết bốn mùa

Xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng (4)

Mùa xuân khai thái dương thăng (5)

Giữ mình khoan khoái chí càng phát sinh

Mùa hè muôn vật trưởng thành

Chẳng lười hoạt động thân mình mạnh thêm

Mùa thu khe khắt im lìm

Khởi cư thận trọng chớ nên xuề xoà

___________

1) Xuất tác nhập tức mặt trời mọc thì đi làm, mặt trời lặn thì về nghỉ

2) Khí dương Nóng tính động, khí âm lạnh tính tĩnh làm ngưng lại. Âm dương là hai hiện tượng mâu thuấn và thống nhất của một sự vật trong vũ trụ cũng như trong sinh lý và bệnh lý. Danh từ âm dương còn dùng để chỉ trời đất: Dương là trời, âm là đất.

3) 4 câu này lại được chú thêm hàng chữ Hán ở nguyên bản để lưu ý người đọc

4) Mùa xuân thì sinh, hạ thì lớn lên, mùa thu thì thu về, mùa đông thì cất giấu

5) Mùa xuân mở đầu ấm áp (Khí dươnh mạnh lên) (Nội kinh yếu chỉ tr78-80)

Mùa đông nấp náu trong nhà

Đừng quên tiết lậu (1) xông pha quá chừng

Tiết trời biến đổi là thường

Nhưng ta phải biết đề phòng mới yên

Mùa xuân kiêng gió trước tiên

Mùa hạ nắng nóng lại xen mưa rào

Mùa thu sương xuống hanh hao

Mùa đông gió rét khi nào khỏi mưa

Chớ quên ẩm thấp bốn mùa

Hư tà rất dễ thừa cơ lấn vào

Lục dâm (2) tuy gió dẫn đầu

Ai ngờ hàn thấp theo sau hại mình

Nắng thì hao khí rành rành

Hàn thấp lưu lại thương hình (3) chẳng sai

Ví bằng bệnh chữa phát ngay

Đến khi tiết đổi lúc rày bệnh sinh

Mùa đông chẳng biết giữ tinh

Sang xuân cảm gió biến thành bệnh ôn

Mùa hè hạ chí âm sinh(4)

Không kiêng sống lạnh, thu thành rét cơn

Mùa thu phong thấp không kiêng

Sang hè sinh bệnh sống phần ỉa phòng

Mùa thu khí táo chẳng ròng

Mùa đông ho hắng vì chưng phục tà (5)

Muốn cho chân khí điều hoà

Ta nên kiêng cữ xông pha lỗi thời

Thích nghi khí hậu của trời

Âm duơng hoà hợp trong ngoài mới yên

4. Ăn uống:

Vệ sinh ăn uống trước tiên

Khuyên ăn thanh đạm, khuyên kiêng đậm nồng

Ngũ tâm (5 vị cay) dùng phải có chừng

Ăn nhiều tán khí, biết phòng mới hay

------------------

1) Sơ hở, tiết mất tinh khí (nội kinh yếu chỉ tr 80 - 23)

2) Phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả

3) Thương tổn đến hình thể :Cám khí thấp vào hại đến da thịt, gân mạch, lạnh nhiều thì nhức xương, rút gân (nội kinh yếu chỉ tr24-25)

4) Tiết hạ chí vào giữa mùa hè (22 tháng 6 dương lịch) thì khí âm bắt đầu sinh (Hạ chí nhất âm sinh) bớt nóng dần

5) Tà khí xâm vào người nhưng chưa phát bệnh ngay mà còn nấp náu ở trong người, đợi khi người yếu hoặc cảm thêm mới phát bệnh. Xem bệnh năng ở Nội kinh tr 22 - 23

Các mùi mặn đắng chua cay

Ăn nhiều sinh bệnh chẳng sai đâu mà

Đắng nhiều hại phế khô da

Mặn nhiều tâm lanh, màu tà phải ngưng

Quá chua can động rút gân

Quá cay, chai thịt, môi quăn, hại tỳ

Ngọt nhiều cũng chẳng ích gì

Tỳ chen, thận yếu xương tê, tóc cằn(1)

Đến như gừng, tỏi, kiệu, hành

Từng dùng phòng bệnh đã thành thói quen

Vừa chừng gia vị thì nên

Hễ người táo nhiệt, chớ quên kiêng dùng

Cao lương tích trệ sinh ung

Rau tương thanh đạm đói lòng cũng ngon

Ăn nhiều ngũ cốc(2) tốt hơn

Thịt thà tanh béo sinh đờm, sinh giũn (lãi)

Có câu: Tham thực cực thân

Bệnh tòng khẩu nhập (3) ta cần phải kiêng

Muốn cho ngũ tạng được yên

Bớt ăn mấy miêng, nhịn thèm sinh đau

Ăn no thì chớ gội đầu (4)

Nên đi bách bộ cho tiêu kiêng nằm

Tháng 3 đói kém thiếu ăn

Đền mùa cờm mới, ăn dần mới tieu

Chết vì bội thực cũng nhiều

Ngờ đâu lại có người nghèo chết no

Còn người phú quý nhàn cư

Ngày đêm yến tiệc ăn no lại nằm

Rượu say rồi lại nhập phòng

Khỏi sao tích trệ, phạm phòng chết non

Nhà nghèo củ chuối cũng ngon

Ăn nhiều sinh thũng còn hơn đói lòng

Bệnh can no đói bất đồng

Tai y khôn dễ dự phòng được ư?

Mấy điều cần phải phòng ngừa

Kiêng ăn sống sít, bẩn dơ, làm nhàm

___________

1) Theo Thiên ngũ tạng sinh thành của Nội kinh tố vấn

2) Gạo tẻ, gạo nếp, bắp, đậu, mè

3) Tham ăn thì dễ bị đau, bệnh thường do ăn uống sinh ra

4) Người xưa để tóc dài, khi vừa ăn no mà gội đầu phải cúi xuống thì dễ sinh tức bụng và nhức đầu

Thức ăn phải đậy để phòng

Thằn lằn, nhện, kiến, nhặng ông rơi vào

Kiêng ăn rau sống tương meo (mốc)

Quạ đen, chó trắng(1) cùng loài tanh hôi

Chẳng ăn thịt thối, thịt ôi

Nem thiu, lươn chết tanh hôi ích gì

Quả xanh nước lã độc ghê

Ăn vào ỉa mừa thường khi bất ngờ

Lại còn độc sắn(2) chẳng ngờ

Cũng nên biết cách phòng ngừa mới yên

Phải đem bóc vỏ trước tiên

Cắt ra ngâm nước một đêm, trắng ròng

Nấu kỹ thì tốt hơn hông (Đồ)

Trước, sau, ăn mía, mật, đường đã say

Từng dùng rau muống xưa nay

Tuy rằng giải độc chưa hay đâu mà

Ai hay ăn nấm cần ngừa

Nấm lim (1) rất độc vì chưng rắn, trùng

Vậy nên biết cách đề phòng

Cho vào đồ bạc nấu cùng thử xem

Thấy đồ sắc biếc xám đen

Biết rằng nấm độc ta bèn bỏ đi

Nhược bằng ngộ độc đôi khi

Uống ngay nước Phẩn(4) tức thì giải luôn

Hoặc dùng nước xáo đất tường (5)

Lóng trong mà uống cũng thường được an

Luận về phòng độc thức ăn

Biết bao nhiêu thứ khó khăn kể cùng

Chỉ bằng kiêng kỵ là xong

Đừng ăn thức lạ mới hòng khỏi nguy

Bất kỳ ngộ đọc thứ gì

Rễ sòi, củ chuối uống thì trục ra

Đậu đen, cam thảo trung hoà

Hoàng đằng, Quán chúng, Từ cô giải liền

_________

1) Quạ đen hay con kênh kênh thường ăn xác chết: Thịt chó cò ăn thì dễ sinh đau bụng đi ngoài

2) Đây nói cây khoai mì (sắn) lương thực phụ trồng để ăn (Manihot esculenta Crantz) không phải là dã cát có độc theo sách xưa, cũng có tên là Câu vẫn tức Lá Ngón (Đoạn trường thảo)

3) Chất độc ở trong nấm không phải do rắn trùng nhả ra. Chính tuỳ theo loại cây nấm. Quan niệm về nguyên nhân trúng độc rắn và việc dùng nước phẩn giải độc là theo "Bản thảo cương mục"

4) Theo Linh nam bản thảo: Phân người đốt thành tro; để lâu khi dùng hoà với nước và lắng lấy nước trong uống giải độc

5) Đất vách hoà với nước, lóng lấy nước trong để uống

Độc cá thì dùng Mã tiên (Cỏ roi ngựa)

Thịt toi: Hoàng bá; Trùng: phèn, chè khô

Độc cua, sò ốc: tía tô

Trứng rau ngộ độc: Giấm chua tiêu liền

5. Nước uống:

Một điều trọng yếu không quên

Vấn đề nước uống phải nên thế nào?

Chớ dùng nước ruộng nước ao

Nước hộ, nước vũng, nước nào cũng dơ

Chi bằng nước giếng nước mưa

Nước sông, nước suối cũng chưa an toàn

Cần thêm ngâm nước sát trung

Chanh châu, Quán chúng, Hùng Hoàng, Nghể râm

Phèn chua lọc nước thêm trong

Ao từ, nước bẩn cũng không nên dùng

Nước ăn chứa đựng trong thùng

Cũng nên đậy kín đề phòng bụi rơi

Nước mưa nên hứng giữa trời

Mái nhà thường có sâu trôi lẫn vào

Bề xây thành đáy mọc meo

Nên dùng vôi bột cọ thao cho liền

Cá vàng nuôi cảnh càng nên

Phòng khi có độc, cá liền chết ngay

Cá ăn bọ gậy (2) hàng ngày

Vẫn là trừ muỗi, lợi thay mọi bề

6. Trầu, thuốc, rượu, trà:

Luận về trầu, thuốc, rượu, chè

Từng dùng thiết đãi bạn bè vui thay

Vừa là phòng bệnh hàng ngay

Nhưng dùng quá mức hai này cũng sâu

Nước ta có tục ăn trầu

Để cho thơm miệng, hồng hào đỏ môi

Bạt trừ khí độc tanh hôi

Sơn, lam chường ngược (3) thiên thời, thấp ôn (4)

Trầu cau ngừa bệnh rét cơn

Từ xưa đã rõ chẳng còn hoài nghi

_________

1) Châu thành:  Canh thâu, tước mai đẳng, Sageteria theejane Brongn. Họ Táo ta, mọc hoang bờ rào đất Bắc có tác dụng tiêu độc

2) Con loăng quăng hoá sinh muỗi

3) Sốt rét chói nước do khí độc của rừng núi (Rét rừng)

Lại dùng thiết khách đôi khi

Mở đầu câu chuyện có gì quý hơn

Nào là tang, tế, quan, hôn (1)

Tân lang (2) quốc tuý quốc hồn (3) xưa nay

Cơi trầu tục lệ chẳng phai

Cho nên có kẻ trầu nhai luôn mồm

Ăn nhiều tán khí gày mòn

Phổi khô môi rộp rõ ràng chẳng sai

Tuy dùng phòng bệnh rất hay

Nhưng khi nóng rực người gày đừng ăn

X

Hàng ngày uống nước rất cần

Chè xanh giải khát sinh tân hoá đàm

Giải độc lợi tiểu tiêu cơm

Váng đầu chóng mặt lại càng được thanh

Uống vừa khoan khoái thần minh

Uống nhiều khó ngủ thân mình gày xanh

Uống nhiều lúc đói chẳng lành

Hoả tiêu thận bại, tỳ sinh hư hàn

Nước chè uống lạnh tích đờm

Chi bằng uống nóng khi còn bốc hơi

Tuỳ từng chè vối lâu đời

Để ngừa sốt rét ở nơi núi rừng

Tiêu đờm hạ khí ngừng nông

Trướng đày, thấp trệ, tích hòn đều tan

Đói lòng chè đặt bùng cồn (trà quạu)

Người gày thì chớ uống càn khí hao

Nhiệt dùng chè Bạng (4) tốt nhiều

Hàn thì chè Vối dễ tiêu tích đầy

X

Thuốc Lào tính nó nóng cay

Hút vào khí độc chạy ngay khắp mình

Làm cho rung động thần minh

Bỗng dưng khoan khoái tâm tình tiêu dao

Nhớ ai như nhớ thuốc lào

Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên (5)

________

1) Ma chay, cúng lễ, lễ qua quan cho đội mũ của con trai lên 20 tuổi (thời xưa), lễ cưới

2) Cau, nói chung là trầu cau

3) Cái tinh tuý đặc biệt của dân tộc

4) Chè tươi loại già

5) Năm 1665, vua Lê Huyền Tông đã hai lần hạ lệnh cấm hút thuốc lào nhưng hok thực hiện được

Bấy lâu ta đã dùng quen

Tương tư yên thảo (1) tương truyền chẳng sai

Bài trừ khí độc tanh hôi

Tán hàn trừ thấp tạm thời thấy mau

Ở nơi nứơc độc rừng sâu

Dự phòng sốt rét, đâu đâu cũng dùng

Hút vào, uất hoả hôi mồm

Họng khô, phổi ráo, tích đờm sinh ho

Khí hao, huyết tụ chẳng ngờ

Ung thư (2) kết hạch (3) nguy cơ có ngày

Hại nhiều lợi ít rõ thay

Khuyên ai quyết chí bỏ ngay thuốc lào

Lá tươi thì độc làm sao

Ăn vào tê dại, nôn nao mê trầm (lịm đi)

Tốt thay trừ mọt sát trùng

Dùng vào trừ rệp trải giường hoặc xông

Rễ khô uống nó thì công

Tiêu trừ trùng tích vô cùng là hay (4)

***

Ruợu nồng tính nóng, hơi cay

Dở chưa, dở ngọt vị hay lạ thường

Uống vào tai mắt đỏ bừng

Tâm thần rung động bàng quàng nói năng

Cường dương, tráng đởm (5) chi bằng

Bỗng nhiên sức mạnh hung hăng là đời

Cưới xin, yến tiệc vui chơi

Đăng quan, tế lễ, rượu đòi trước tiên

Có người say rượu liên miên

Người thì đói khát, không cơm, ăn mày

Rượu dùng tốn gạo nguy thay

Một người uống rượu mấy người nhịn ăn

Rượu say mê muội tinh thần

Khiến người làm bậy, làm càn hại thay

Rượu dùng làm thuốc thì hay

Tán hàn, hành huyết thật tài thật nhanh

_______

1) Cây thuốc lào có tên riêng là Tương tư yên thảo Nghĩa là Nhớ nhung khói cổ, tên khoa học là Nicotiana rusticUm

2) Mụn nổi phát nhanh là ung, nhọt chìm phát chậm là thư, nói chung là mụn nhọt

3) Tụ lại thành hòn hay nổi hạch như tràng nhạc kết hạch

4) Lá thuốc lào tươi hay khô chữa rắn, sâu cắn. Rễ sao vàng chữa tích báng. Nhưng có chất Nicotin rất độc

5) Mạnh dương kích dục và gây thêm can đảm hùng mạnh

Thuốc sao tẩm rượu thi hành

Thuốc cao pha rượu để dành được lâu

Thuốc mà ngâm rượu chạy mau

Ngoài xoa trong uống như cầu nhiều ghê

Tay chân đau nhức thấp tê

Người già rũ mỏi thuốc gì tốt hơn

Xưa dùng ngừa trị phong hàn

Rượu đầu vị thuốc rõ ràng chữ: Y (1)

Song le nạn rượu cũng nguy

Đến khi quá chén biết gì dại khôn

Ngà ngà mượn dịp hành hung

Say nhiều nôn mửa, bỗng nhiên mê trầm

Hơi men nung nấu Can tâm

Đau đầu, thổ huyết, họng sưng, mắt mù

Biến sinh cước khí (2) ung thư

Phế nuy (3) Tâm noãn (4), khô gan, da vàng

Lâu ngày thấp nhiệt huân chưng (5)

Biến nên vị thống (6) tràng phòng, gân mềm

Rượu làm khí lực hao mòn

Chi bằng nhịn rượu để còn gạo ăn

Chẳng những phòng bệnh phải răn

Cũng là giáo phú hưng dân đồng thời (8)

Nên dùng làm thuốc mà thôi

Già thì uống ít trẻ thì cấm ngăn

Uống ăn là việc rất cần

Nhưng mà kiêng kỵ lại càng cần thay

Cứ trong ăn uống thường ngày

Phải cần biết chọn thức này, thức kia

Lại nên phối hợp thích nghi

Ăn nhầm sinh bệnh chẳng gì ích đâu

Nuôi người già yếu ốm đau

Càng nên tiết chế mới hầu khỏi nguy

Nên ăn kiêng kỵ thức gì

Ở trong Bản thảo (9) đã ghi rõ ràng

Khuyên người phụ nữ nên tường

Để giúp y thuật ngày càng tiến hơn

_______

1) Chữ "Y" gồm chữ "dậu" ở dưới. Dậu có nghĩa là rượu (Dậu thánh)

2) Chân đau sưng tê lạnh

3) Phổi héo khô (lao phổi)

4) Tim đập chậm hay cơ tim giãn ra (Suy tim)

5) Khí ẩm chưng bốc nóng

6) Đau dạ dày

7) Tràng phogn hạ huyết (Ỉa ra máu)

8) Vừa là dạy cho dân giàu mạnh

9) Chắc là Bản thảo cương mục. Hiiii

7. Thất tình

Nội thương bệnh chứng phát sinh

Thường do xúc động thất tình gây nên

Quá mừng khí hoãn như điên

Chợt kinh khí loạn tâm phiền ngất đi

Nghĩ nhiều khí kết thương tỳ

Thao thức không ngủ, ăn thì chẳng ngon

Lo sầu phế khí tiêu mòn

Hụt hơi héo hắt nói không ra lời

Xung can sùng sục như sôi

Giận thì khí thượng tựa trời sấm vang

Sợ thì khí xuống tận cùng

Thận hư run rẩy, dái thun, gối mềm

Tinh thần rối loạn chẳng yên

Vì chưng khí hết biến thiên thất thường

Ngấm ngầm nguyên khí tổn thương

Thừa hư tà lấn vào trong bệnh thành

Lợi dục đầu mối thất tình

Chặn lòng ham muốn thì mình được an

Cần nên tiết dục thanh tâm

Giữ lòng liêm chính chẳng ham tiền tài

Chẳng vì danh lợi đua đòi

Chẳng vì sắc đẹp đắm người, hại thân (2)

Giữ tinh, dưỡng khí, tồn thần

Tinh không hai tán thì thần được yên

Hàng ngày luyện khí chớ quên

Hít vào thanh khí, độc liền thải ra

Làm cho khí huyết điều hoà

Tinh thần giữ vững bệnh tà khó xâm

Lại cần tiết chế nói năng

Tránh làm quá sức dự phòng khí hao

Thức đêm lo nghĩ quá nhiều

Say mê sắc dục cũng đều hại tâm

Biến sinh lao tái bệnh thâm (3)

Chân nguyên suy tổn ngấm ngầm chết non

________

1) Xem bệnh năng ở Nội kinh yếu chỉ tr 36 - 37

2) Sắc đẹp làm cho người ta mê đắm và có thể hại đến tính mệnh

Có người phú quý luyện đan

Tưởng rằng tăng thọ nhờ hoàn tráng dương

Ngờ đâu thận đã tổn thương

Còn dùng dược thạch (3) lại càng chóng nguy

Đột nhiên tứ đại (4) phân ly

Đỉnh chung mũ sắc (5) mặt my (mày) với đời

Nhìn xem thôn dã bao người

làm ăn chất phác, chơi bời chẳng hay

Ngô khoai ra cháo hàng ngày

Ấy mà khoẻ mạnh hơn người cao lương

Vì quen cuộc sống bình thường

Ít lo xúc phạm nội thương thất tình

Rạng đông cày cuốc luyện mình

Đồng không hít thở, thân hình nở nang

Lo sầu vì bệnh giàu sang

Vui nghèo khoẻ mạnh hiên ngang trong lòng

Thảnh thơi ở chốn núi rừng

Cuộc đời thanh bạch mà thường sống lâu

Hơn người quyền quý công hầu

Nhàn cư tửu sắc phần nhiều chết non

Mặc dù đạo dẫn, tiên đan (6)

Đâu bằng hai chữ Thanh tâm là cùng

8. Phụ nữ

Bệnh căn nữ có khác nhau

Về phương kinh nguyệt, có mang lâm bồn

Sinh rồi, con mẹ vuông tròn

Nhưng mà sản hậu lại còn phải kiêng

Mấy điều ghi nhớ trước tiên

Nhập phòng vô độ chớ nên chiều chồng

Lửa dục nung nấu trong lòng

Âm tinh hao kiệt, máu hồng cũng khô

Đẻ nhiều huyết bại khí hư

Dần dần thuỷ kiệt, từ từ sinh lao

Dâm phòng quá độ khí hao

Thường khi không chữa quy vào hiếm hoi

____________

1) Chế và dùng thuốc trường sinh

2) Thuốc cường dương

3) Thuốc bằng kim thạch như Lưu hoàng, Dương khởi thạch

4) Tứ đại: 4 yếu tố lớn trong cơ thể là Máu, thịt, gân, xương. Ý câu này là nói thân thể bỗng dưng lìa rời

5) Đỉnh chung mỹ sắc là danh vọng và sắc đẹp

Hoặc là đẻ nhặt sinh đôi

Con bầy ốm yếu, giống nói mạnh sao

Đẻ luôn con lại bú nhiều

Đêm hôm mất ngủ âm tiêu (1) gày mòn

Ốm đau lại phải nuôi con

Thêm phần lao lực chóng tàn ngày xuân

Thương người phụ nữ tảo tần(2)

Sinh ra gánh vác mọ phần cho nan

Thương người ca xướng phấn son

Ăn không ngồi rỗi hiến thân cho người

Biết bao bệnh tật trong đời

Nguyên do sắc dục chơi bời gây nê

Biết bao lao khổ ưu phiền(3)

Vì chưng: một của một con, ai từ (4)

Song le dâm dục thạn hư

Biến sinh kinh bế, huyết khô gày mòn

Mắn con thường lại chết non

Há không tiết dục lại còn đa dâm

Lại còn uất giận xung tâm

Vì chưng tình dục ghen tuông chẳng ngừa

Can uất kinh bế huyết hư

Âm tiêu hoả tốc từ từ bệnh sinh

Vậy nên thư thái tính tình

Bớt lòng ham muốn thì mình sống lâu

 ***

Một điều trọng yếu hàng đầu

Khuyên người chớ vội nhận trầu vấn danh (5)

Đợi khi nam nữ trường thành

Để cho thiên quý (6) âm tinh (7) vẹn toàn

Đến kỳ rồi mới kết hôn

Nữ nam sung túc, cháu con sum vầy

Chớ theo cổ tục hại thay

Đưa con gả bán từ ngày còn thơ

Tảo hôn chết yểu cần ngừa

Há sao luật cấm mà chưa tuân hành

***

Đàn bà nên giữ vệ sinh

Để cho nguyệt tín kỳ kinh được đều

Chớ nên làm lụng quá nhiều

Khi kinh chưa sạch chớ liều ngủ chung

Nhập phòng, uất giận can xung

Dễ sinh băng lậu (2) khó lòng cầm ngay

Kiêng ăn sống lanh tích đầy

Dầm mưa, rửa sớm, sau này trệ kinh

Liền khi vừa mới sạch mình

Kiêng ăn táo nhiệt, thất tình, phòng trung

Gây nên động hoả khí xung

Huyết khô thuỷ kiệt, dự phòng hư lao

Giữ gìn thai nghén thế nào

Để cho con cái về sau yên lành (3)

Chặn ngăn xúc động thất tình

Dự phòng điên giản sài kinh sau này

Dục phòng thương thận nguy thay

Tiên thiên (4) không đủ thóp (5) đầy được ư

Cứng đầu ngọeo cổ lưng gù

Chậm đi, chậm nói, gày gò những xương

Ăn nhiều các thứ cay nồng

Sinh con thai nhiệt, lở sưng da vàng

Ăn nhiều các thứ khổ hàn

Sinh con tỳ tiết (6) sống phân, thũng tề

Hàn thấp nhiễm đến thai nhi

Hàn thì đau bụng, thấp thì bào sang (7)

Lại kiêng lội nước leo thang

Van la, trật đả (8) dễ dàng sảy thai

Họăc con tàn tật đòi nơi

Bẩm sinh mang bệnh sau này khó nuôi

Chớ nên sầu não bi ai (buồn khóc)

Tìm nơi thanh tú xa nơi hãi hùng

Lại còn no đói thất thường

Cũng đều ảnh hưởng đến lòng thai nhi

__________

1) Năm 1489, luật Hồng đức ấn định tuổi thành hôn sớm nhật: Nam 18t, nữ 16t nhằm hạn chế tục tảo hôn

2) Băng huyết, rong huyết

3) Xem "Phụ đạo xán nhiên" quyển hậu tr9 - 10

4) Sự bẩm sinh hay chỉ cơ năng của thận

5) Thóp, Nam gọi là mỏ ác

__________

1) Tinh huyết bị hao kiệt. Xem phụ đạo xán nhiên

2) Đảm đang

3) Vất vả, lo phiền

4) Lòng ham muốn về của và con thì bao nhiêu cũng vừa, không ai từ chối

5) Lễ dạm vợ đầu tiên bên nam đến hỏi tên tuổi bên nữ

6) Thời kỳ thận khí đầy đủ (Tuổi dậy thì): Nữ 14t, nam 16t. Đến lúc đó nữ thì có kinh nguyệt, nam thì có tinh khí đầy đủ

7) Tinh khí của thận (Xem phụ đạo xán nhiên tr 1-8)

Có mang khuyên chớ nằm ì

Thường nên xay lúa thể chi (1) vận đều

Để cho sinh đẻ thuận chiều

Lại nên nằm thẳng chớ queo chân vào

Trong buồng lửa đót khí hao

Lại kieng tiếng đọng ồn ào sợ kinh

Lâm bộn đến lúc gần sinh

Khuyên người vững dạ tính tình thảnh thơi

Chớ nên rặn sớm hết hơi

Chớ nên bóp bụng theo lời người ta

Ổn bà (2) cấm kẻ vào ra

Đến khi hoa nở (3) chớ cho nước vào

Trục thai hoặc thuốc hạ bào (nhau)

Không nên mãnh liệt khí hao hại người

Dự phòng sau lúc đẻ rồi (4)

Nằm yên một chỗ chớ ngồi, chớ đi

Trong phòng kín đáo tứ vi (4 bề)

Chớ cho gió lọt vào khe lạnh lùng

Sưởi hơ, chớ để than hồng

Chỉ nên sưởi ấm vào vùng bụng, chân

Cần kiêng xúc động tinh thần

Không nên vội tắm, rửa chân, chải đầu

Vá may, làm lụng chưa cần

Dự phògn băng huyết, đau đầu khí xung

Muốn cho khí xấu khỏi ngưng

Cần nên ăn Nghệ, kiêng dùng đồ tanh

Các thức mát lạnh chẳng lành

Cần nên ấm bụng, ấm mình mới tan

Muốn cho da bụng khỏi nhăn

Thì nên bôi Nghệ, thắt khăn mấy vòng

Tiêu cơm thì uống chè Vằng

Vừa phòng tích tụ, hà trưng (5) trước phù

Phòng dục là việc cần ngừa

Trăm ngày kiêng cữ cũng chưa an toàn

Vừa cho khoẻ mẹ mạnh con

Khuyên người phụ nữ quyết tâm giữ gìn

________

1) Thân và tay chân

2) Bà mụ xem (Toạ thảo lương mô)

3) Khi mở tử cung và con chui ra (nghĩa bóng)

4) Xem "Phụ đạo xán nhiên" quyển hậu

5) Hòn báng do khí huyết ngưng tụ

9. Dưỡng nhi:

Nuôi con là việc rất cần

Mọi người ai cũng quan tâm hàng ngày

Tiên thiên bẩm thụ chẳng đầy

Là vì thiếu phép dưỡng thai trong lòng

Hậu thiên (1) nuôi dưỡng chẳng phòng

Thì con ốm yếu gày còm chết non

Anh nhi như cái mầm non

Cần nên vun tưới, chăm nom, giữ gìn

***

Dự phòng ngay lúc mới sinh

Trước tiên cắt rốn, gừng, hành xát dao

Vải mềm nước muối tẩm vào

Quấn tay móc miệng độc trào tiết ra

Lại dùng nước nấu Ngân hoa

Tắm ngay cho trẻ, ngoài da mát lành

Dự phòng đậu sởi phát sinh

Lá xoan, ích mẫu rửa mình cũng hay

Dự phòng thai nhiệt kinh sài

Lúc khi mới đẻ uống ngay Ngưu Hoàng

Phòng ngừa kiết lỵ tiện đường(2)

Uống ngay cam thảo, mật ong kiện tỳ

Phòng ngừa kinh giản, đậu mùa

Cho uống sữa lợn (3) tháng đầu cũng nên

Buộc bụng cho kẻ không quên

Chặn tà hàn thấp nhiễm truyền tề phong (4)

***

Khi tắm cho trẻ phải phòng

Gió lừa nước lanh, trẻ run rẩy mình

Chớ nên để trẻ sợ kinh

Tắm lâu nên kỵ, lau mình nhẹ tay

Giữ lưng cho trẻ cần thay

hàn thấp xâm nhập, kinh sài phát ra

Phong trì (5) sau gáy thường xoa

Đề phòng ngoại cảm phong tà Lục dâm (6)

_____

1) Chỉ vật chất dinh dưỡng sau khi sinh hay chỉ về chức năng của tỳ vị hệ tiêu hoá

2) Ỉa lỏng, ỉa chảy, kiết lỵ

3) Sữa heo mát lành xưa đáng để phòng bệnh đậu mùa, kinh giản (ấu ấu tu tri quyển Kim tr 39)

4) Uốn ván đường rốn

5) Huyệt ở hai bên gáy từ chân tóc lộn lên nửa đốt ngón tay

6) Phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả

Khi cảm chỗ đó nên chườm

Mồ hôi ra được, trẻ thường lại chơi

Hớt tóc chỗ ấm nên ngồi

Làn đào, bột mịn, cạo rồi liền xoa

Đề phòng lở ngứa ngoài da

Dùng nước Kinh giới, hoè hoa tắm thường

Cho mặc ấm bụng, ấm lưng

Ấm chân, kín rốn còn hơn bịt đầu

Áo quần thích ứng theo mùa

Bịt hơi nóng quá phải ngừa ngứa sang (Lở)

Trên đầu dương khí bốc lên

Đội mão hơi bức hoá sinh chốc đầu

Dưới chân chẳng thiết ấm nhiều

Từ khi trẻ đã bắt đầu tập đi

Để cho cơ biểu thích nghi

Khi trời ấm lạnh cho đi ra ngoài

Trong phòng ủ ấm là sai

Đến khi thay đổi tiết trời cảm ngay

Cho nằm ở chỗ thoáng hơi

Nhưng cần phải tránh những nơi gió lùa

Đề phòng hàn thấp răn ngừa

Lăn mình dưới đất, nằm bò ngoài sương

Nằm nơi mát lạnh nên kiêng

Mặc dù tiết nóng chớ nên ở trần

Khi ngủ bụng ngực đắp chăn

Còn kiêng tiếng động giật mình hoảng kinh

Gối đầu Hoa cúc nhẹ thanh

Phòng ngừa phong nhiệt xông lên mắt đầu

Tịch (tránh) tà cho đeo bao trừ

Địa liền, Long não, A nguỳ, Chân hương

Gặp khi sấm sét tiếng vang

Nhét tai cho trẻ để phòng điếc tai

Lại cần biết cách cho chơi

Cấm ôm súc vật, tránh nơi lạ thường

Đồ chơi thanh nhã nên dùng

Chớ cho bốc đất, bắt trùng mà ăn

Ngồi lê dưới đất nên răn

Trùng xâm, kiến đốt, bất thần bệnh sinh

___

1) Bao đựng thuốc đeo cho trẻ để cản khí độc, phòng bệnh cũng gọi là đeo bùa (Ấu ấu tu ri quyển Kim)

Chơi dao, chơi lửa đáng kinh

Đề phòng tai nạn, thân hình đao thương

Nuôi trẻ tuần tiết phải tường

Vỡ da sốt lớn (1) là thường đừng lo

Vội dùng thuốc mạnh hồ đồ

Hài nhi non nớt, nguy cơ tới liền

Mọc răng đi tướt suốt đêm

Vội vàng cầm ỉa sẽ thêm nóng nhiều

Tập ngồi chớ để ngồi lau

Tuỷ non, xương yéu về sau lưng gù

Tập đi sớm quá cũng ngừa

Làm trẻ rán sức, gân mềm chồn chân

Luận về cho bú, cho ăn

Là phần trọng yếu ta cần quan tâm

Những điều nhũ mẫu phải làm

Giữ sao cho sữa tốt lành luôn luôn

Phòng dục, uống rượu phải kiêng

Nhất là ăn thức nướng rang, cay nồng

Cùng thức sống lạnh cay nhờn

Mặn chua thái quá cũng không nên dùng

Uống ăn hỗn tạp không chừng

Làm cho chất sữa thất thường, loãng chua

Lạnh thì nôn, tháo đầy, ho

Nóng thì lở, kiết, bất ngờ lòi dom

Sau khi mưa náng giãi dầm

Hoặc khi mẹ mới tắm xong uống liền

Sữa này truyền bệnh tất nhiên

Cần nên vắt bỏ trước tiên nước đầu

Sau khi tích sữa đã lâu

Cũng nên vắt bỏ lớp đầu mới an

Bú ăn cần cách thời gian

Ăn liền lại bú hoàn toàn không tiêu

Đang no hoặc giả bú nhiều

Nôn, ói, ọc sữa là điều đáng lo

Sau khi trẻ đã biết bò

Ăn nhiều bột gạo để cho cứng mình

Muốn cho bụng dạ yên lành

Sớm ăn ngũ cốc cho thành thói quen

________

1) Biến chứng (sốt ở da)

Kể từ ba tháng trở lên

Cho ăn cháo loãng thì yên vị trường

Dự phòng tích trệ giun trùng

Ít ăn béo ngọt, uống phòng Sứ quân (quả giun)

Hạt sen, đậu ván nên ăn

Chua cay, đắng chát ta cần phải kiêng

Bớt ăn mấy miếng cho thèm

Còn hơn bội thực gây nên tích đầy

Uống ăn điều độ cần thay

Thức ăn thanh đạm là bài thuốc tiên

Tôm cua, sò ốc nên kiêng

Ăn vào lạnh dạ, ỉa liền phân tanh

Đến như kiệu, tỏi, hẹ, hành

Dễ sinh hư nhiệt tính tình mẩn mê

Chim sẻ, chím ngói bổ ghê

Ăn vào trằn trọc khó bề ngủ yên

Lại sinh lở ngứa liên miên

Thịt gà, cá chép cũng nên ăn vừa

Nuôi con biết cách phòng ngừa

Thì con khoẻ manh, mẹ đà khỏi lo

Nhà nghèo khi đói, khi no

Không mền, không áo cần ngừa gió sương

May thay tạo hoá đoái thương

Lưng cơm mảnh chiếu, con thường vui chơi

Vì chưng quen với tiết trời

Lại không tích trệ như người cao lương

Muốn cho con cái khang cường

Khuyên người phụ nữ nên tường cách nuôi

10. Ăn ở:

Ăn ở cần phải chọn nơi

Chọn làng mà ở, chọn người mà giao

Làm nhf chỗ thoáng, chỗ cao

Tránh nơi dơ bận, ồn ào, âm u

Xa phường trộm cắp hung đồ

Gần người chất phác, cần cù làm ăn

Để cùng giúp đỡ đồng lân

Để cùng gìn giữ an ninh xóm làng

1)    Ở “ấu ấu tu tri” quyển Kim tr. 35, thì nói ngoài 6 tháng mới cho trẻ ăn cháo loãng và ngoài 3 tuổi mới có

Thường khi đào giếng khai mương

Phát hoang bụi rậm, dọn đường cùng đi

Nhà giàu ích kỷ chi li

Nhìn xa độ thị phố phường

Dâm ô truỵ lạc, chợ đường hôi tanh (1)

Mấy ai biết giữ thân mình (2)

Huống là trật tự vệ sinh xóm phường

Nhưng nơi thắng cảnh miếu đuờng

Cần nên gìn giữ phong quang vẹn toàn

Những nơi mồ mả chợ đường

Chớ nên phóng uế, đào mương, đắp bùn

Đừng nên phát hoả đốt lùm

Đề phòng gió bốc, lửa um cháy nhà

Nhà ở thì phải làm xa

Bếp xây tường đất trái lờ lửa om

Gần bếo chớ chất củi rơm

Nên đào ao giếng sẵn luôn trong vườn

Phòng hoả quan trọng vô cùng

Giữ gìn cuộc sống, đề phòng hoả thương (phỏng)

Thuỷ tai nguy hiểm phi thường

Đê điều cần phải chăm thường đắp luôn

Cấm người đào đất xẻ mương

Lợi miệng thì ít, hai chung thì nhiều

Ở nơi nước lũ hiểm nghèo

Trồng cây cổ thụ để neo chằng nhà

Phòng khi lụt lội nước sa

Thuyền bè sắm để trong nhà gì hơn

Trước lo việc ở cho yên

Sau gìn sạnh sẽ không quên ghi lòng

Chớ nên ỉa bến, ỉa sông

Chi bằng ỉa ruộng, ỉa đồng tốt cây

Quanh nhà chớ đái mà khai

Ẩm thấp sinh muỗi, tanh hôi sinh ruồi

Trong nhà cửa mở thoáng hơi

Để cho dương khí mặt trời lọt qua

Siêng năng quét cửa, quét nhà

Soi giường, giặt chiếu mới là vệ sinh

___________

1) Nói về xã hội thời Lãn ông

2) Xem Thượng kinh ký sự trang 56 và 29.

 Khác nhau thôn dã thị thành

Nhà nông cần phải lấy phân bón mầu

Góc vườn dào hố ủ sâu

Nên làm chuòng lợn, ràn trâu xa nhà

Phòng bệnh, phòng rắn cho gà

Chuồng đan phên kín, chớ là dưới sân

Độn chuồng là việc rất cần

Vừa tránh ruồi nhặnh, thêm phân lợi nhiều

Bất kỳ kẻ có người nghèo

Ăn mặc sạch sẽ chẳng tiêu tốn tiền

Áo quần giặt giũ cho liền

Vò Găng Bồ kết, Chu biên, Bồ hòn(1)

Lại nên tắm gội luôn luôn

Có câu: Đói sạch rách thơm, sá gì

Giàu sang màn trướng chu vi (vây quanh)

Trong u ám (đen tối) thương khi bẩn nhiều.

Nước chảy, không thối, không rêu

Lòng sạch, người sạch là liều thuốc tiên

11. Tránh tai nạn

Muốn cho thôn xóm được yên

Mỗi người đều phải giữ gìn cùng nhau(2)

Đề phòng trộm cướp binh đao

Là điều khó tránh người nào chẳng lo

Ấy là những việc bất ngờ

Thật ra vốn có nguyên do rõ ràng

Khó nghèo ghét kẻ giàu sang

Kẻ ăn không hết, người làm chẳng ra

Kẻ thì gác tía xướng xa

Người thì đói rét kêu la khắp đường

Thà rằng bạo động bất lượng

Còn hơn chết đói nằm đường thối thây

Bệnh đời sâu sắc lắm thay

Tây y không dễ với tay ngăn ngừa

Sửa mình lương thiện cần cù

Không chèo chẳng ngã, không giàu chẳng nguy

Mặc đời những truyện thị phi

Bỏ lòng lợi dục sợ gì tai ương

1)    Quả găng trâu, bồ hòn, bồ kết và vỏ chu vò ra tẩy sạch vết bẩn (có chất saponin) dùng như xà phòng

2)    Hai câu này nguyên bản chép vào cuối mục “ăn ở” nghi nhầm, nên chúng tôi chuyển sang mục này có nghĩa

Chí như ẩu đả đao thương

Giết nhau, đầu độc vẫn thường xảy ra

Lòng tham không đái khôn dò

Chỉ vì danh lợi, dâm tà xui nên

Lại còn gieo hoạt vu oan

Đốt nhà hại của dã man vô cùng

Chỉ vì nông nổi ác tâm

Làm người đau khổ, hoạ thâm về mình

Tội chi thắt cổ trầm mình

Dù người ức iếp, quyên sinh thiệt đời

Chi bằng nhẫn nhục cho rồi

Lòng mình ngày thằng, có thời giải oan

Ở đời tai hoạ đa đoan (nhiều mối)

Biết lường tiến thoài biết dừng khỏi nguy

Can qua tham khốc (1) thường khi

Tranh quyền cướp nước chỉ vì mộng tham (2)

Mưu thâm thì hoạ cũng thâm

Hại nhân, nhân hại, tất nhiên, khôn ngừa

Anh hùng lỡ bước sa cơ

Hùm thiêng mắc bẫy, nào ngờ chết toi

Chớ nên tàn bạo ở đời

Lòng mình không muốn thì người nào dung

Chớ nên cậy thế oai hung

Lòng người không phục, đến cùng vẫn nguy (3)

X

Chớ nên thám hiểm hiếu kỳ

Đứng đi cẩn thận sợ gì chiết thương (què xương)

Chớ nên lặn vực chui hang

Nhỡ khi chuột rút, xà lang hại mình

Chớ vì quyền lợi tranh igành

Hại nhân ích kỷ mà thành oan gia

Chớ nên đấu sức ganh đua

Ngoài phòng tai nạn, trong ngừa tổn thương

1)    Chiến tranh tàn hại.

2)    Dưới thời Lãn Ông xã hội Việt Nam rối ren cực độ. Các tập đoàn phong kiến xấu xé nhau về quyền lơi, địa vị. Nhà Trịnh, chúa Nguyễn đánh nhau chia cắt đất nước để cai trị. Nhân dân cực khổ nhiều mặt. Ở miền Bắc, từ năm 1937 phong trào nông dân liên tiếp nổi lên khắp nơi chống chính quyền Lê – Trịnh, đều lần lượt thất bại và bị đàn áp. Ở miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, nông dân Tây Sơn khởi nghĩa năm 1971 đánh đuổi chúa Nguyễn, lần lượt giải phóng miền Nam và đánh bại quân can thiệp Xiêm vào năm 1875. Rồi Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc diệt chúa Trịnh năm 1786 và tiêu trừ quân phong kiến Mãn Thanh dưới chiêu bài giúp đỡ nhà Lê sang xâm lược nước ta, đầu năm 1789. Chính nghĩa đã thắng hung tàn

3)    Rắn và chó sói

Lưới chài săn bắn phải phong

Biến khơi, rừng rậm, tố dông lạc đường

Đừng nên táo bạo không chừng

Sông sâu chớ lôi, đò đầy khoan sang

X

Thú trùng tác hại cũng thường

Há không nghĩ đến những phương thuốc phòng

Chó dại thì nó chay rông

Ăn nhầm nọc độc ngoài đồng phát điên

Thường nên nhót lại đừng quên

Hết đường tiếp xúc nhiễm truyền được sao

Đề phòng chấy rạn thế nào

Cần nên tắm gội chải đầu luôn luôn

Rận thì nên giặt áo quần

Hột na(1) trừ chấy vài lần hết ngay

Vôi đá sát trùng xưa nay

Trừ giun, diệt đỉa ta hay thường dùng

Trục đỉa thì dùng mật ong

Nó còn dùng để trục trùng vào tai

Thuộc chuột dùng rễ Hương bài

Trừ sâu: thuốc lá (2), trừ ruồi: Ngề, vôi

Trừ rệp: bồ kết, hoa nồi

Hun nhà trừ muỗi, dùng Bèo, lá Xoan

Đề phòng rết cắn không quên

Giường nằm phải có che phên làm trần

Nhà giàu đã có mùng màn

Sợ gì rết muỗi mà bàn mà lo

Mắm tương trong vại trong vò

Tự sinh ròi bọ, lò mò bò lên

Dùng là Bọ mắm(3) bỏ trên

Bọ bâu lên lá ta bèn vứt đi

Lá này giã bỏ trước khi

Phòng ngừa sinh bọ có bề tốt hơn

Miệng vò bịt vải luôn luôn

Ruồi lằn không đậu lại càng tốt thay

Ong bu chớ đập mà nguy

1)    Na: tức mãng cầu ta, mang cầu dai Ânnom Squamoss L lá rất đắng, chữa sốt rét, ruột trừ chấy rận(rang giã nhỏ, trộn dầu dừa mà xức)

2)    Theo Hành giản trân nhu quyển Ly, tr. 27 là Mãng thảo tức Hồi núi, không phải là Tuý ngư thảo

3)    Cây thuốc giòi (Poujolzia india Gaud) tác dụng lương huyết chỉ thấp, bài trùng giải độc (chữa ho), trừ ròi trong mắm

Một con bị chết cả bầy đốt luon

Đề phòng xà thú vào vườn

Trồng cây Ruốc cá xung quanh hàng rào

Lại con trừ đỉa dưới ao

Thường lấy xuơng ngựa bỏ vào cũng hay

12. Phòng bệnh truyền nhiễm

Thiên thời dịch lệ nguy thay

Làm sao mà trừ được bệnh này mới an

Từ xưa luống những lo toan

Thế mà chướng lệ (sốt rét ác tính) vẫn còn xảy ra

Núi rừng rậm rạp bao la

Lá lim phân thú, trùng xà ủ men

Suốt đời khí thấp lưu liên

Đến khi nắng nóng chứng lên bệnh thành

Theo đường mũi miệng vào mình

Khí độc lam chướng (trùng núi) hoành hành ác ghê

Bệnh này chứng trạng bất tề

Tựa như sốt rét mà nguy chẳng  chầy

Hoắc hương bách giải(1) uống ngay

Trước khi chưa phát hoạ may được lành

Gặp khi chướng khí lưu hành

B an ngày nắng bộc hơi thành mùi thơm

Kíp luô bịt kín mũi mồm

Nói năng phải tránh mới hòng khỏi qua

Ở nơi lam chướng phải ngừa

Tuyệt không phòng sự, ăn no, nhọc nhằn

Ngày uống vài chén rượu tằm(2)

Để cho khí huyết ôn thông rất cần

Dự phòng nước độc sơn lam(3)

Nên uống cam thảo với phen luôn luôn

Phòng ngừa ngã nước rét cơn

Ăn nên ngót bụng, ngủ trùm kín chân

Nằm cùng người bệnh nên răn

1)    Hoắc hương bách giải hoàn: hương phụ 2 lạng 5 đồng cân. Lá lim, ngũ gia bì đều 2 lạng; Lá sung, nam mộc hương đều 3 lạng; Hạt cau, muội nồi, long đởm thảo, thường truật đều 1 lạng. Gừng khô một ít; tán nhỏ, lấy hột đậu xanh quyất hồ làm viên bằng đầu ngón tay út, uống mỗi lần 3 – 5 viên với nước thang như sau:

-         Sốt rét ngã nước ác tính uống với nước gừng

-         Ỉa chảy uống nước cơm

-         Đau bụng và thổ tả uống với nước muối sắc

-         Kiết lỵ uống với Chỉ xác sắc

-         Cảm nóng rét, uống với nước Gừng, Hành sắc

2)    Rượu tăm: tức rượu để nấu bằng nếp, lấy cao chữ từ 40 độ

3)    Sơn lam chướng khi hay lam chướng là khí độc của núi rừng

Ngủ ngày phải kị nên ăn cao trầu

Nước Riềng, chè vối đều tiêu

Lại ăn Ý dĩ uống liều thiên kim (1)

Tuy rằng ở chốn núi rừng

Biết phòng cũng được bình thường chẳng lo

X

Bệnh nguy hoắc loạn(2) từ xưa

Thái âm(3) thấp khí phát sinh

Nhân ăn uống lạnh trong mình tổn thương

Vì chưng nó đói thất thường

Lại ăn uống nước độc rừng chảy xuôt

Sau khi mưa lụt nước trôi

Biết bao uế tạp theo ngòi chảy đi

Uống vào nôn tháo đôi khi

Nên dùng nước giếng khỏi nguy phần nào

Địa liền, quán chúng ngâm vào

Hoắc hương nấu uống tà liêu khí hoà

Kiêng ăn rau sống, sinh già(cà sống)

Thức ăn nấu chín bệnh tà tránh xá

Liền sau nạn đói can qua

Thường có dịch lớn phát ra kéo dài

Cho rằng dịch lệ thiên thời

Thực ra uế tạp do nguời gây nên

Dưới đất xác chết lưu niên

Nắng mưa chưng nấu bốc lên hại người

Trẻ già cảm nhiệm động thời

Biết phòng, biết tránh nhiều người cũng qua

Hễ khi ôn dịch phát ra

Dự phòng uống Tỏi, bạc hà, lá thông

Nữ thanh(4), bục dục(5) nên dùng

Lại hun Bồ kết, đàn hương trong nhà

Có dịch thì chớ lân la

Cần nên nút mũi khi ra ngoài đường

1)    Thiên kim bất hoãn hoàn: hậu phác, thương truật, hoắc hương, hương phụ, trần bì, bán hạ, tân lang, thảo quả, cam thảo bằng nhau tán bột, viên với hồ bằng đầu ngón tay út, uống mỗi lần 1 – 3 với nước gừng

2)    Hoắc loạn: dịch tả

3)    Khí đát làm tổn thương tỳ vị

4)    Rau mảnh bát (Cocninia cordifolia Cogn) hát đọt non luộc ăn

5)    Thái bộc căn bùng mục: Mallotus barbatus muell et Arg

Dùng bông bọc tỏi, hùng hoàng

Khi thăm ngừoi bệnh lại càng không quên

Chuyền trò đối diện chớ nên

Về nhà tẩy uế mới yên trong lòng

Trong nhà người bệnh ở cùng

Chớ nên chung chạ đồ dùng phòng lây

Nhất là lao trái truyền thi(1)

Đề phòng truyền nhiễm trường kỳ mới yên

Ngăn ngừa cha mẹ di truyền

Hao tinh lao lực bệnh nguyên khơi mào

Ở gần dễ nhiễm trùng lao

Nên dùng vôi bột rắc vào đờm phân

Ống nhỏ, nên chứa vôi, mun

Dự phòng bách bộ, uống ngăn cũng màu

Chí như mai độc(2) hại sâu

Phòng ngừa bệnh nhiễm lúc đầu khó thay

Đến khi bệnh đã phát rồi

Chữa không tiệt nọc, suốt đời truyền di

Dương mai truyền nhiễm thật nguy

Khuyên người nam nữ chớ đi chơi nhiều

Cu vẽ(3), khúc khắc uống nhiều

Rau sam ăn mãi độc tiêu hết truyền

Lệ phong (4) gốc tự cao nguyên

Trùng độc, xà độc gây nên bệnh này

Dễ lay, khó khỏi ngừơi hay

Ai mà mắc phải lánh ngay(cách ly) vào rừng

Chớ nên lưu luyến gia đình

Bền lòng điều dưỡng một mình mới an

Mật ong, rau má thường ăn

Móng tay(5) thịt rắc rất cần khu phong

Khỏi rồi còn cấm tửu phòng (rượu, phòng dục)

Mặn, cay phải kỵ, mới hòng hồi cư(về nhà ở)

Dự phòng truyền nhiễm đậu mùa

Từ xưa có phép nhưng chưa an toàn

Nên xa ngừoi bệnh thì hơn

1)    Lao trùng truyền nhiễm (kể cả lao phổi)

2)    Di đọc của bệnh giang mai (Bách gia trân tàng quyển Quý tr.24)

3)    Bồ cu vẽ (Brevnia fruticos Hook)

4)    Phong cùi ở Hành giản trân nhu quyển Đoài tr. 19 cũng dùng mật ong nhưng không kiêng cay

5)    Lá móng tay tức thuốc mọi lá lựu (lawsoia inermis L) Xem Bách gia trân tàng quyển Trọng tr. 25

Áo quần nên nấu, chiếu giường phải xông

Người bệnh nên ở trong phòng

Đến khi bay hết hoàn toàn phải ra

Lên sởi cũng như lên hoa(đậu)

Cần kiêng gió nước mới là bình an

Dự phòng đậu, sởi, đầu ôn(1)

Chành châu(2) rau mác uống đôn(ngăn) cũng lành

Dự phòng đơn độc phát sinh

Gỗ vang sắc uống thì mình cũng an

Ngăn ngừa ôn độc phát ban

Thạch cao, núc áo, lá chàm uống ngay

Thấp ôn(cảm cúm) tê mỏi chân tay

Đau lưng nghẹt mũi bệnh này ít lo

Cần nên mặc ấm ăn no

Uống đon: Hưong phụ, tử tô, trần bì

Phong ôn phát sốt li bì

Cắt căn, kinh giới uống thì cũng qua

13. Phòng bệnh gia súc

Phòng dịch gà heo trâu bò

Dọn chuồng là việc phải lo hàng ngay

Dọn ròi lại vẩy rắc vôi

Nên đốt Thương truật xông hơi vào mồm

Gà thì phải để cao chuồng

Gà làng cách biệt gió sương cần phòng

Ăn gạo tẩm nước vôi trong

Rượu ngâm hột Giổi(3) uống thường được qua

Đậu sang: cóc mẫn(4) uống xoa

Diêm sinh chặn dịch ngáp rù, ỉa vôi

Đến khi đã chớm có toi

Chớ mua gà chợ về nuôi thêm phiền

Phải đem gà chết chôn liền

Chớ nên vất xác nhiễm truyền sao đang

Phòng ngừa dịch lợn phát ban

Chanh châu, đơn đỏ(5) uống đon cũng lành

1)    Sưng đầu mặt, quai bị

2)    Canh châu (Xích nhu đẳng: Sageretiatheezans Br.) Lá non hãm nước uống sôi uống thay nước trà, chữa sởi đậu. Tác dụng tiêu độc

3)    Cây gỗ cao ở rừng, đặc sản VN (Talauma gioi A Hlev) hạt có mùi thơm dùng làm gia vị vừa là thuốc chữa đau bụng hay ngâm rượu xoa bóp

4)    Cóc mãn (centipeda milima L) Nga bất thực thảo

5)    Đơn mặt trời, cây liễu, Excoccoria cochin chinenois Lour – ôn phế thông khi, giáng suyễn chữa mề đay mụn

Đến khi dịch đã phát sinh

Rau sam nấu với pHù bình cho ăn

Bồ kết, củ ráng uống luôn (quán chúng)

Sát trùng, bài độc, khí ôn thanh trừ

Ngăn ngừa dịch lợn bò trâu

Hùng hoàng, bồ kết, ô đầu đốt than

Tán ra thổi mũi thông quan

Lại cho uống tỏi dân gian thường làm

Tiễn đưa lịch lệ ôn hoàng (tống ôn)

Trước tiên tẩy uế, khai quang gia đường (1)

Kinh này, nên đọc thuộc lòng chớ quên

14. Điều dưỡng bệnh nhân

Chăm nuôi người bệnh rất cần

Cũng nên biết cách giữ gìn thì hơn

Khi đàu nằm ở trên giường

Mọi điều lo nghĩ thường thường hiện ra

Nào lo việc cửa việc nhà

Mong sao chóng khỏi để mà làm ăn

Đau lâu sợ chết đến gần

Bỏ con, bỏ vơ, thương thân tiếc đời

Âu sầu bệnh nặng chẳng sai

Cần khuyên người bệnh thảnh thơi trong lòng

Tinh thần giữ vững ở trong

Yên tâm điều trị mới mong chóng lành

Nhược bằng xúc động thất tình

Kém ăn, kém ngủ, bệnh tình sẽ tăng

Ví bằng lo chết quá chừng

Dễ sinh sợ hãi, mê trầm ngất đi

Dù khi gặp bệnh chí nguy

Ta đừng thổ lộ chớ hề xôn xao

Cấm người khóc lóc ồn ào

Cần nên vững dạ tin vào thuốc thang

Khi đau tuyệt chớ nhập phòng

Uống ăn tiết độ, cấm dùng rượu nem

Đương sốt, sau hạ (xổ) kiêng cơm

1)    rRửa sạch vô mở sáng cửa nhà. Nghĩa bóng là phép “tẩy uế” “khai quang” của thầy cúng khi làm lễ tống ông  theo duy tâm

2)    Người khoẻ mạnh yên vui, súc vật của cải phồn thịnh

Nên ăn cháo loãng, chớ ham bánh quà

Oẹ nôn tả lụ cần ngừa

Ăn chất khô nóng, thịt thà khó tiêu

Kiêng ăn bệnh chóng khỏi nhiều

Uống ăn hỗn tạp, bệnh đều nặng thêm

Áo quần nên giặt cho liền

Lại năng thay chiếu, lau giường đỡ hôi

Trừ rận xông củ ba mươi (bách bộ)

Chăm người bệnh năng, tiện (đại tiện) rồi lại lau

Xương khô gió thở nằm lâu

Trầy da loét thịt, bôi dầu mộc qua

Đầu giường chớ để than lò

Muốn đêm ngon giấc, chớ cho ngủ nhiều

Để đèn chói mắt muỗi vào

Thức khuya uống nước, đái nhiều thâu canh

Không ngủ sức khoẻ sụt mau

Ăn được ngủ được là liều thuốc tiên

Giữ gìn nguyên khí trước tiên

Làm cho cơ thể khoẻ lên, bệnh lùi

Vững lòng uống thuốc tin thầy

Đừng tin phù phép theo lời thế gian

Chớ nên cất mả, làm đàn(1)

Rồi ra: tiền mất, tật mang được gì

Phải đâu sinh ký tử quy (2)

Phải đâu số mệnh mà quy cho trời

Dở hay: vốn tự ở người

Bệnh mà thất trị(3): quá thời, chết oan

Chữa sao cho được vẹn toàn

Khuyên người thầy thuốc chớ toan công(4) liều

Theo gốc mà chữa mới hèo (hiệu)

Bệnh không biến chứng, tà tiêu tan dần

Ngộ(gặp) khí thế bệnh tiến lên

Kịp thời ngăn chặn biến thuyền, khỏi nguy

Công liền, tiếp bổ tuỳ nghi

Giữ cho Chính khí khỏi suy vì tà

1)    Bốc mộ tổ tiên đem chôn nơi khác và cúng lễ để cầu giải hạn thay số cho khỏi bệnh theo quan niệm duy tâm

2)    Sống là ở gửi, chết là về quê, theo thuyết luân hồi duy tâm của đạo Phật

3)    Không được chữa đúng phép và kịp thời (thiếu sót về diều trị)

4)    Phép chữa đuổi bệnh tà: hãn, thổ, hạ

Chữa gần mà phải phòng xa

Chặn đường bên hj tiền từ da vào lòng

Chữa ngay khi bệnh òn nông

Chần chứ bệnh nặng khó lòng khỏi ngay

Có câu: đau chóng đỡ chầy

Là vì không biết chữa ngay kịp thời

Thuốc thang sẵn có khắp nơi

Trong vườn, ngoài ruộng, trên đồi, dưới sông   

Hàng ngàn thảo mộc thú trùng

Thiếu gì thuốc bỏ, thuốc công quanh mình

Cứ gì phải đợi Sâm, Linh

Hạt sen, ý dĩ tính bình sẵn ngay

Đại hoàng công hạ tốt đây

Chu biên, lô hội dùng thay kém gì

Chớ nên chuộng lạ cầu kỳ

Chi bằng chữa được kịp thì là hơn

Nên dùng các thứ thức ăn

Thay vào thuốc bổ có phần lợi hơn

Đậu đen trồng được trong vườn

Hà tất phải đợi địa hoàng từ xa

Ong rừng lại có hươu nhà(2)

Thiếu gì thuốc bổ mà lo gày mòn

Bình thường rau đậu bổ hơn

Đến khi liệt nhược Sâm, nhung chẳng vào

Dù cho Sâm phụ (3) nhiệm màu

Âm dương ly thoát thuốc nào cứu đang

X

Ngoài cách điều trị bệnh thường

Cũng nên biết cách đề phòng lúc nguy

Cứu người bổ ngã tường đè

Bỗng dưng chết ngất, cần dè chuyển lay

Động di khí loạn nguy ngay

Dần dà khí huyết phục hồi thì hơn

Cứu người bị bỏng lửa hun

Chớ nên ngâm lạnh đắp bùn mà nguy

1)    Bệnh tà lúc đầu ở ngoài da thịt  (biểu), nếu không chữa đúng phép và kịp thời thì tà khí dần vào trong(lý)

2)    Ý nói ngoài việc nuôi ong lấy mật và săn hươu lấy gạc để dùng, còn nên đi kiếm thêm mật ong rừng và nuôi thêm hươu nai ở vườn nhà để lấy nhung, gạc làm thuốc bổ

3)    Sâm phụ thang: nhân sâm 5 đồng cân. Phụ tử chế 2 đồng cân 5 đồng phân, là phương thuốc hồi dương

       

 Trong uống thanh bổ tâm tỳ

Mật ong, thuốc bỏng bôi thì đỡ ngay

Phạm phòng ngừng thở đôi khi

Khuyên người phụ nữ để y trên mình

Chớ vì xấu hổ mà kinh

Lăn xuống thì chết vô tình sát phu

Cứu người chết đuối bến đò

Chớ nên dốc thằng chống giò lên trên

Nước đè thì khí tuyệt liền

Chỉ còn nằm chếch nước bèn chảy ra

Cứu người trúng nắng đường xa

Chớ nên uống lạnh mới là được yên

Cho nằm chỗ ướt không nên

Chườm nóng vào rốn dần dần tính ra

Gọi là mấy phép phòng ngừa

Ta nên hiểu biết để cho đỡ lầm

Chẳng qua mấy việc thường làm

Sách này hợp lại thành bài “vệ sinh”

15. Tóm tắt

Vệ sinh phép giữ thân mình

Sao cho khoẻ mạnh an ninh mới là

Mười điều cơ bản đề ra

Thứ nhât: làm lụng, hai là nghỉ ngơi

Ba là đừng trái tiết trời

Xông pha mưa gió nắng nôi lạnh lùng

Còn khi dịch lệ cuồng phong

Biết chừng mà tránh, mà phòng mới yên

Thứ tư thị hiếu chớ quên

Mắt trông ham muốn, lòng quên cương thường

Sinh ra làm bậy làm xằng

Chứ “tham” sánh với chữ “thâm” một vần

Năm là cần phải thủ chân

Giữ lòng trong sạch cho thần được yên

Định tâm như kẻ tham thiền

Bỏ lòng lợi dục đua chen đường đời

Sáu là ngủ dậy theo thời

Luyện thân, luyện khí đứng ngồi thong dong

Làm cho khí huyết lưu thông

1)    Lá thuốc bỏng hay gọi là cây Sống đời (Bryphyllum calycium silisb) dùng chữa bị bỏng và lở ngứa

Chân tay cứng cáp trong lòng thảnh thơi

Bảy: răm tửu sắc chơi bời

Thoả lòng chốc lát, cuộc đời ngắn đi

Tinh hao, chân khí phải suy

Nguyên thần ly tán, bệnh gì chẳng sâu

Tám: cần ăn uống hàng đầu

Nhưng đừng quá bội mà đau dạ dày

Kiêng ăn các thứ đắng cay

Các thứ sống lạnh tích dầu khó tiêu

Chín là năm ngủ thuận chiều

Hướng phương sinh khí(về đông) đầu cao hơn mình

Vòng tay lên ngực: mộng kinh

Vào giường không nghĩ, thẳng mình ngủ yên

Mười nên tắm giặt cho liền

Ra ngoài dù, nón không quên trên đầu

Đề phòng hàn thấp nhiễm vào

Áo quần ấm áp, tà nào dám xâm

Mấy điều nên nhớ nhập tâm

Tháng ngày giữ trọn, trăm năm thọ trường.
Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn có nhận xét gì về phiên bản website mới của chúng tôi?

Tốt

Khá

Trung Bình

Kém

Logo Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa
Logo Cơm Chay Dưỡng Sinh Liên Hoa
Các món ăn Liên Hoa quán