21:07 ICT Thứ ba, 06/12/2022

Danh mục nội dung

Liên hệ

Trang nhất » Tin Tức » Bệnh học » XEM THEO HỆ » BỆNH HỆ MŨI

Liên hệ

MŨI VIÊM DỊ ỨNG

Thứ hai - 20/06/2011 07:52
Là loại bệnh gây nên do nhiều nguyên nhân phức tạp, dễ tái phát, khó điều trị, có tính chất chu kỳ. Nếu cơn nặng thường làm cho người bệnh mệt mỏi, bơ phờ, không muốn ăn, ngủ, không lao động được.

MŨI VIÊM DỊ ỨNG

 

Là loại bệnh gây nên do nhiều nguyên nhân phức tạp, dễ tái phát, khó điều trị, có tính chất chu kỳ. Nếu cơn nặng thường làm cho người bệnh mệt mỏi, bơ phờ, không muốn ăn, ngủ, không lao động được.

Đông y gọi là  Quá Mẫn Tính Tỵ Viêm, Tỵ Cứu.

Nguyên Nhân
 

Theo YHHĐ:
 

+ Do sự quá mẫn của niêm mạc mũi đối với các kích thích, được gọi là dị nguyên. Các dị nguyên thường gặp là bụi, phấn hoa, các vi khuẩn... Cách chung, đó là những dị nguyên đường hô hấp.

+ Hầu hết các bệnh dị ứng chỉ xẩy ra trên những cơ địa có tính chất gia truyền và có đặc điểm là sự bấp bênh giữa thần kinh giao cảm và thần kinh phó giao cảm.

Theo YHCT:

+ Do Phế khí suy yếu: phong hàn bên ngoài xâm nhập vào làm cho Phế mất chức năng tuyên giáng gây nên chảy nước mũi liên tục.

+ Do Phế Tỳ Khí Hư: thủy thấp tràn lên mũi gây nên. Phế chủ khí, liên hệ với sự hô hấp. Tỳ chủ sự vận hóa các tinh túy của thức ăn, thành thanh khí, đưa lên Phế. Vì vậy, sách ‘Y Học Nhập Môn’ viết: “Mũi là đường xuất ra của thanh khí, thanh khí xuất phát từ Vị”. Tỳ thổ sinh Phế kim, nếu Tỳ khí suy sẽ làm cho Phế khí bất túc, Phế mất chức năng tuyên giáng thì nước mũi sẽ sẽ tụ lại, hàn và thấp tụ lại lâu ngày gây nên bệnh.

+ Do Thận khí hao tổn, Phế khí không được ôn dưỡng: Phế chủ sự hô hấp, đưa khí ra vào, Thận chủ nạp khí, vì vậy giữa Phế và Thận có sự liên hệ điều hòa khí.

Nếu Thận hư yếu, bất túc, không nạp được khí, khí không trở về nguồn được, khí ở Phế sẽ bị hao tán, phong tà nhân cơ hội đó xâm nhập vào làm cho nước mũi chảy liên tục.  Nếu Thận dương hư yếu, hàn thủy sẽ trào lên mũi gây ra chứng nước mũi chảy không cầm.

Thiên ‘Tuyên Minh Ngũ Khí Luận’ (Tố Vấn 23) viết: “Năm khí gây nên bệnh... Thận phát ra chứng hay vươn vai, hắt hơi...”.

+ Do Phế kinh có uất nhiệt: Phế có chức năng tuyên giáng, nay nếu Phế có uất nhiệt thì chức năng tuyên giáng bị rối loạn, hỏa nhiệt sẽ bốc lên mũi gây nên nghẹt mũi, muốn đẩy tà khí ra ngoài thì phải hắt hơi liên tục.
 

Triệu Chứng: Thường xuất hiện đột ngột từng cơn hoặc lúc sáng sớm, khi thời tiết thay đổi.
Trên lâm sàng thường có ba triệu chứng điển hình:

+ Cơn hắt hơi từng loạt, ngắn hoặc dài hàng giờ. Bắt đầu là cảm giác cay, ngứa, buồn, nóng trong mũi, lan xuống hàm ếch, lan lên mắt, sau đó là hắt hơi từng tràng dài liên tục, không tự kềm chế lại được làm cho người bệnh bơ phờ, mệt mỏi.

+ Chảy nước mũi trong, nhiều, và liên tục như vòi nước cứ rỉ nước ra nhiều đợt, đồng thời có cảm giác mắt nóng, chảy nước mắt, ra ánh sáng càng khó chịu hơn, đầu đau.

+ Nghẹt mũi hoàn toàn, không thở bằng mũi được, cả lúc nằm và lúc ngồi,cổ khô, đầu đau, các xoang ở mặt có cảm giác căng đau.

Khi ra ngoài trời, gặp gió những triệu chứng càng tăng lên, sáng sớm mũi nặng lên, đêm về lại đỡ hơn.

+ Theo YHCT.

- Do Phế Khí Hư Yếu, Cảm Phong Hàn

Chứng: Bình thường hay sợ gió, hay bị cảm, gặp gió lạnh là phát bệnh, mũi ngứa, hắt hơi liên tục, chảy nước mũi, nghẹt mũi, hơi thở ngắn, khan tiếng, hoặc có khi tự ra mồ hôi, sắc mặt trắng, lưỡi đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Hư, Nhược.

Điều trị:  Ôn bổ Phế, khứ phong, tán hàn.

Dùng bài:

Ngọc Bình Phong Tán (27) hợp với Thương Nhĩ Tử Tán (50).

(Ngọc Bình Phong Tán gồm Hoàng kỳ, Bạch truật, Phòng phong để ích khí, cố biểu; Thương Nhĩ Tử Tán có Tân di, Bạch chỉ, Bạc hà để tán phong phong hàn, thông khiếu (phương hương thông khiếu). Hai bài phối hợp có tác dụng Bổ Thận, cố biểu, khứ phong, tán tà, thông khiếu (Trung Y Cương Mục).

Hoặc  Ôn Phế Chỉ Lưu Đơn (32), Ôn Dương Tán Phong Thang (31), Kinh Phòng Bại Độc Tán (12).

Ngoại khoa:

+ Dùng Hành, ép lấy nước cốt, nhỏ vào mũi.

Do Phế Tỳ Khí Hư, Thủy Thấp Đưa Lên Mũi

Chứng: Mũi ngứa, hắt hơi liên tục, chảy nước mũi xanh, hay tái phát. Khi phát bệnh thì đầu váng, đầu nặng, thần trí mệt mỏi, hơi thở ngắn, tay chân mỏi mệt, sợ lạnh, tiêu lỏng, lưỡi nhạt hoặc có vết răng, rêu lưỡi trắng hoặc bệu, mạch Nhu, Nhược.

Điều trị: Kiện Tỳ, ích khí, bổ Thận, liễm khí.

Dùng bài:

Tứ Quân Tử Thang (55) gia vị: (Tứ Quân Tử Thang để kiện Tỳ, ích Phế; Hoàng kỳ bổ Phế, cố biểu, làm tăng tác dụng của bài Tứ Quân; Thêm Ngũ vị tử, Kha tử bổ Phế, liễm khí, thông tỵ khiếu, làm cho bớt hắt hơi; Tân di hoa để phương hương thông khiếu(Trung Y Cương Mục).

Kỳ Truật Thang (13) (Hoàng kỳ, Bạch truật, Đảng sâm, Phục linh ôn bổ Phế khí, hợp với Phòng phong để khứ phong, cố vệ biểu; Bạch chỉ, Cam thảo ôn trung, kiện Tỳ; Thương nhĩ tử, Tân di, Cúc hoa tán phong, thông khiếu; Mộc thông lợi huyết mạch).

Sâm Linh Bạch Truật Tán ( 35) gia giảm.

Thuốc thổi: Dùng Bích Vân Tán (03) thổi vào mũi ngày 3 - 4 lần.

-          Do Thận Khí Hao Tổn, Phế Không Được Nuôi Dưỡng.

Chứng: Mũi ngứa không chịu được, hắt hơi liên tục, nước mũi chảy ra không dừng, sáng sớm và chiều tối bệnh nặng hơn, bệnh thường kéo dài khó khỏi, bình thường hay sợ lạnh, sau gáy, vai, lưng đều lạnh, tay chân không ấm, sắc mặt trắng nhạt, tinh thần uể oải, lưng đau, chân mỏi, tiểu nhiều, tiểu đêm, cơ thể gầy yếu, chóng mặt, ù tai, hay quên, ít ngủ hoặc lòng bàn tay bàn chân nóng, lưỡi nhạt, mạch Trầm Tế (Thận dương hư) hoặc lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tế Sác (Thận âm hư).

Điều trị:

+ Thận dương hư: Ôn bổ Thận dương, nạp khí, trấn đế [hắt hơi].

+ Thận âm hư: Tư dưỡng Thận âm.

Dùng bài Ôn Phế Chỉ Lưu Đơn (32) Thêm Hồ đào nhục, Nhục thung dung, Phúc bồn tử, Kim anh tử, Cáp giới (Ôn Phế Chỉ Lưu Đơn để sơ biểu, tán hàn, bổ Phế, liễm khí, làm cho hết hắt hơi; Thêm Hồ đào nhục, Kim anh tử, Phúc bồn tử, Nhục thung dung, Cáp giới để ôn Thận, bổ Phế, sơ phong, tán hàn, làm cho hết hắt hơi).

-          Do Phế Kinh có Uất Nhiệt

Chứng: Mũi nghẹt, đau, ngứa, hắt hơi, chảy nước mũi hoặc ho, họng ngứa, miệng khô, phiền nhiệt, lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Huyền hoặc Huyền Hoạt

Điều trị: Thanh tuyên Phế khí.

Dùng bài Tân Di Thanh Phế Ẩm (40) (Hoàng cầm, Chi tử, Thạch cao, Tri mẫu, Tang bạch bì thanh nhiệt uất ở Phế Vị; Tân di hoa, Tỳ bà diệp, Thăng ma tuyên Phế, sơ khí, thanh thông tỵ khiếu; Bách hợp, Khoản đông thanh dưỡng Phế âm).

Chú ý khi điều trị: Thay đổi cơ địa là chủ yếu, tập rèn luyện thích nghi với môi trường chung quanh.

 

CHÂM CỨU TRỊ MŨI VIÊM DỊ ỨNG

 

+ Phế Khí Hư: Khứ phong, tán hàn, ích Phế.

Châm Nghinh hương, Thái uyên, Ấn đường, Phong môn, Phế du ( Nghinh hương chủ trị mũi nghẹt, không ngửi thấy mùi thơm; Ấn đường nằm ở trên đường của mạch Đốc, mạch Đốc đi xuống đến đầu mũi, vì thế Nghinh hương và Ấn đường là hai huyệt chủ yếu để thông mũi; Phong môn khứ phong; Phế du bổ cho Phế; Thái uyên là Nguyên huyệt của kinh Phế, Theo sách ‘Linh Khu’ : Ngũ tạng có bệnh, dùng huyệt Nguyên. Dùng Phế du và Thái uyên để bổ hư, ích Phế (Trung Y Cương Mục).

+ Thận Khí Hư: Bổ Thận, thông khiếu.

Châm Nghinh hương, Ấn đường, Mệnh môn, Thận du, Đại trường du (Nghinh hương chủ trị mũi nghẹt, không ngửi thấy mùi thơm; Ấn đường nằm ở trên đường của mạch Đốc, mạch Đốc đi xuống đến đầu mũi, vì thế Nghinh hương và Ấn đường là hai huyệt chủ yếu để thông mũi; Mệnh môn là nơi tụ khí của sinh mệnh con người; Thận du là nơi nhận tinh khí của Thận, dùng Mệnh môn và Thận du  để ôn dương, cố bản, sơ điều kinh khí, bên trong thì bổ cho Thận bất túc, bên ngoài thì điều khí của mạch Đốc, Đại trường du là huyệt cục bộ ở vùng thắt lưng, là huyệt trị lưng đau, chân đau (Trung Y Cương Mục).

 

+ Tỳ Khí Hư: Kiện Tỳ, ích khí, thông khiếu.

Châm Nghinh hương, Ấn đường, Tỳ du, Túc tam lý (Nghinh hương chủ trị mũi nghẹt, không ngửi thấy mùi thơm; Ấn đường nằm ở trên đường của mạch Đốc, mạch Đốc đi xuống đến đầu mũi, vì thế Nghinh hương và Ấn đường là hai huyệt chủ yếu để thông mũi; Tỳ du là huyệt chuyển tinh khí vào Tỳ; Túc tam lý thuộc kinh túc Dương minh. Kinh túc Dương minh và thủ Dương minh  giao nhau ở mũi. Tỳ và Vị có quan hệ biểu lý với nhau, là nguồn sinh hóa của hậu thiên. Lý Đông Viên nhận định: “Sách Nan Kinh viết: Phế khí thông lên mũi, Phế hòa thì mũi ngửi thấy mùi thơm thối... Nếu Tỳ Vị bị tổn thương, hư yếu, không vận hóa khí đi lên trên được, tà khí ủng trệ ở mũi, làm cho mũi không thông, không ngửi thấy mùi thơm thối, phải dưỡng Vị khí, làm cho dương khí, tông khí đưa lên thì mũi mới thông” vì vậy, dùng huyệt Túc tam lý để bổ trung ích khí kiêm sơ phong, hòa doanh, thông mũi (Trung Y Cương Mục).

+ Huyết Ứ: Hoạt huyết, hành ứ, thông khiếu.

Châm Nghinh hương, Ấn đường, Cách du, Huyết hải (Nghinh hương chủ trị mũi nghẹt, không ngửi thấy mùi thơm; Ấn đường nằm ở trên đường của mạch Đốc, mạch Đốc đi xuống đến đầu mũi, vì thế Nghinh hương và Ấn đường là hai huyệt chủ yếu để thông mũi; Cách du là huyệt hội của huyết; Huyết hải thuộc kinh Tỳ, Tỳ có tác dụng thống huyết, ôn ngũ tạng, là biển của Tỳ kinh tụ về, do đó, trong trường hợp huyết ứ, dùng hai huyệt này để hành huyết, hoạt huyết (Trung Y Cương Mục)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Ý kiến của bạn về giao diện của website http://www.tuetinhlienhoa.com.vn?

Đẹp, duy trì giao diện như vậy

Bình thường, cần điều chỉnh

Xấu, cần thay đổi ngay

Ý kiến khác (xin gửi về email: support@tuetinhlienhoa.com.vn)

Logo Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa
Logo Cơm Chay Dưỡng Sinh Liên Hoa
Các món ăn Liên Hoa quán