23:38 EDT Thứ sáu, 23/06/2017

Danh mục nội dung

Liên hệ

Trang nhất » Tin Tức » Cây thuốc - Vị thuốc » Vần Đ

Liên hệ

ĐẠI KÍCH 大 戟

Thứ sáu - 04/03/2011 18:06
Cây thảo sống lâu năm, có độc, thân cao 0,3-0,7m, có lông nhỏ lá mọc cách, hình mũi mác, bầu dục, hai bên mép lá có răng cưa không rõ ràng,

ĐẠI KÍCH    大 戟

Euphorbia pekinensis Rupr.

Xuất xứ: Bản Kinh.

Tên khác: Cung cự (Nhĩ Nhã), Hạ mã tiên (Bản Thảo Cương Mục), Kiều, Chi hành, Trạch hành, Phá quân xác, Lặc mã tuyên (Hòa Hán Dược Khảo).

Tên khoa họcEuphorbia pekinensis Rupr.

Họ khoa học: Euphorbiaceae.

Mô tả: Cây thảo sống lâu năm, có độc, thân cao 0,3-0,7m, có lông nhỏ lá mọc cách, hình mũi mác, bầu dục, hai bên mép lá có răng cưa không rõ ràng, thân lá cắt ra có dịch trắng chảy ra, đầu mùa hè thân phân nhánh và ra hoa màu vàng xanh. Quả hơi dẹp hình tròn, có vết nứt lồi ra.

Phân biệt:  Có 2 loại Đại kích là Hồng nha đại kích và Miên đại kích.

. Hồng nha đại kích: Còn gọi là Hồng mao đại kích hoặc Tử đại kích là vị Đại kích mà người phương nam Trung Quốc hay dùng, vị thuốc khô biểu hiện hình tơ xe, cong nhăn teo, dài từ 32-50mm, dầy chừng 6-12mm, bên ngoài có màu đỏ nâu hoặc nâu xám, hơi có rễ nhánh, vết nhăn dài mà sâu, liên tiếp không dừng, chất cứng mà giòn (gặp trời mẩm dễ hút ẩm và mềm trở lại) bẻ gẫy có màu nâu đất, có mùi đặc biệt.

. Miên đại-kích: Còn gọi là Thảo đại kích hoặc Bắc đại kích, biểu hiện hình trụ tròn dài, mà nhỏ, dài chứng 18-25cm có khi tới 50cm, rộng chừng 6-9mm, mặt ngoài màu đỏ nâu hoặc nâu xám, hơi uốn cong chất mềm khó bẻ gẫy, dễ tước, vị này ít dùng.

Địa lý: Cây này Việt Nam chưa thấy có, còn phải nhập của Trung Quốc. Thường có ở Quảng Đông, Quảng Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Thiểm Tây, Giang Tô, Triết Giang.

Thu hái, sơ chế: Thu hái vào tháng 8-10 âm lịch, ngâm nước cho mềm cạo bỏ lõi ở giữa xắt lát phơi khô.

Phần dùng làm thuốc: Rễ.

Bào chế: Sao với giấm hoặc chưng với đậu hũ cho nhừ.

Tính vị: Vị đắng. Tính mát. Có độc.

Quy kinh: Vào kinh Thận.

Tác dụng: Trục thủy, hóa ẩm.

Chủ trị: Trị phù thủng tay chân, bụng lớn. Ho suyễn, đàm ẩm tích tụ. Đau hông sườn như dao cắt.

Liều dùng: 2 - 6g.

Kiêng kỵ: Người nguyên dương suy yếu không nên dùng.

Phụ nữ có thai cấm dùng.

Phản Cam thảo.

Bảo quản: Để nơi khô ráo.

Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Trị trúng phong thái dương kinh, biểu đã giải mà lý chưa hòa, đau tức ran sườn, hoặc vì nước đình tích mà ho, phù thủng thở gấp, đại tiểu tiện bí: Cam toại, Nguyên hoa, Đại kích, tán bột sắc với nước Đại táo uống (Thập Táo Thang - Thương Hàn Luận).

+ Trị trúng gió phát sốt: Đại kích, Khổ sâm, mỗi thứ 120g, nước dấm, rượu trắng 1 đấu nấu mà rửa, lạnh thì thôi (Thiên Kim Phương).

+ Đại kích thường hay bỏ vào ‘Ngọc Khu Đơn, Tử Kim Đính’ để giải cổ độc, nhiệt độc ung thư, mụn nhọt, các loại rắn độc cắn, trong uống ngoài dán, khi nào đi cầu được là tốt (Tam Nhân Phương).

+ Trị bệnh đậu biến thành đen, khô hãm không phát ra được, hàn mà đại tiện bón: Đại kích 30g, Táo 3 trái, 1 chén nước nấu rồi phơi khô, bỏ Đại kích, lấy Táo nhục sấy khô làm thanh viên, uống từ 1 - 2g, đến khi nào đi cầu được thì thôi (Bách Tường Hoàn - Tam Nhân Phương).

+ Trị đờm dãi lưu trệ trên hoặc dưới ngực, hung cách, biến chứng đủ thứ bệnh, khi đau cổ gáy ngực vai lưng sườn, khi tay chân đau nhức không chịu được, gân cốt rã rời, đau không cố định khi rung chỗ này khi giật nơi khác, da thịt mất cảm giác như bại liệt, những chứng ấy không nên cho là phong khí, phong độc và ung nhọt để trị, hoặc trong lúc ngủ chảy nước dãi nơi miệng, ho suyễn, đờm mê tâm khiếu: Tử đại kích, Cam toại, Bạch giới tử  đều 30g, sao qua, tán bột, lấy nước cốt gừng trộn làm viên to bằng hạt ngô đồng lớn, uống lần 7-20 viên nuốt với nước bọt, nếu muốn đi cầu được lợi hơn dùng 50-60 viên (Khống Diên Đơn - Tam nhân phương).

+ Trị đau răng, răng lung lay:  Đại kích nhai nhét vào chỗ đau (Sinh Sinh Phương).

+ Trị phù thủng thở gấp, tiểu tiện ít, phù bụng: Đại kích 60g, Can khương sao đen đều 15g, tán bột, mỗi lần uống 9g với nước gừng sống, khi nào đại tiểu tiện thông thì thôi (Thánh Tế Tổng Lục).

+ Trị phù thủng cấp hoặc mãn tính, dùng Đại kích, Đương quy, Quất bì mỗi thứ 30g, sắc với 2 thăng nước còn 7 chén, đi cầu được là tốt, nhưng cũng cần uống thêm 2- 3 thăng nữa, khi đỡ rồi, cữ ăn thức ănà độc trong 1 năm (Binh Bộ Thủ Tập Phương).

+ Trị phù thủng căng trướng: Đại kích 30g, Quảng mộc hương 15g, tán bột, uống 3 - 5g với rượu, đi cầu ra nước xanh biếc, sau đó ăn cháo, cử ăn thức ăn mặn (Hoạt Pháp Cơ Yếu).

+ Trị phù thủng căng trướng: Đại kích 30g đốt tồn tính tán bột uống rượu lúc đói (Hoạt Pháp Cơ Yếu).

+ Trị phù lớn như cái trống, phù cả người: Táo1 đấu,  bỏ vào nồi, tẩm qua nước, dùng Đại kích (rễ và ngọn non) trét kín nắp nồi thật kín, nấu chín, lấy Táo ăn (Hoạt Pháp Cơ Yếu).

+ Trị phù lớn như cái trống, phù cả người: Đại kích, Bạch khiên ngưu, Mộc hương, các vị bằng nhau, tán bột, mỗi lần dùng 3g,  lấy thịt thăn heo, xẻ ra bỏ thuốc vào giữa gói lại, nướng chín, ăn lúc đói (Đại Kích Tán - Hoạt Pháp Cơ Yếu).

Tham khảo:

. Đại kích hạ được ác huyết, khối kết, sôi bụng, thông kinh nguyệt, trụy thai (Dược Tính Bản Thảo).

. Đại kích chửa mề đay, chứng phong độc sưng chân, hàng ngày nấu nước ngâm rửa chân thì khỏi (Gia Hựu Đồ Kinh Bản Thảo).

. Đại kích là thuốc xổ độc, chữa bệnh vàng da dịch lây lan, sốt rét đang nóng nhiều hơn lạnh tan khối cứng ở bụng (Nhật Hoa Chư Gia Bản Thảo).

. Đại kích bẩm thụ khí âm độc của trời đất mà sống, nên vị đắng tính hàn mà có độc. Chân Quyền và Khiết Cổ lại cho kiêm vị cay, sách Biệt Lục lại cho kiêm vị ngọt. Đúng ra phải là cay nhiều hơn, không cay thì không có độc vậy. Vị đắng tính hàn nên giỏi về đi xuống và vào can thận. Vị này thì đi ngang không chỗ nào là không tới. Khiết Cổ lại cho rằng tả phế thì tổn tới chân khí, chủ về hạ cổ độc. Cổ độc ắt nóng ắt cay, cay thì đi vào tạng phủ, nên mượn cái tính hàn vị cay của nó đuổi cái cay nóng là nhằm lấy độc để công độc. Vị đắng tính hàn thì đi xuống và xổ được, nên trục được thủy tà còn lại. Thấp nhiệt và đình ẩm ở trung hạ thành tích tụ. Vị đắng, cay, ngọt, tính hàn nên ta được nhọt sưng ở cổ nách, thông lợi đại tiểu tiện,  xổ thuốc độc, thông kinh nguyệt. Vị cay đắng có độc, nên lại xổ thai được. Bệnh vàng da lây lan nếu không phải nguyên khí thực thì chớ dùng. Nội Kinh viết: “Tà chi sở tấu kỳ khí tất hư” người trúng phong thì khí ắt hư. Phần cuối “Bản Kinh” lại ghi rằng, nó chủ về trúng phong da dẻ đau buốt ói mửa là không phải. Phải chăng bệnh hư có thể dùng thuốc đắng hàn có độc để xổ không? Càng làm bệnh hư thêm nữa (Bản Thảo Kinh Sơ).

. Đại kích đắng, hàn, có độc, vào Can và Bàng quang, thông lợi đại tiểu tiện, xổ được 10 loại bệnh thủy độc, trục huyết khối tích tụ, nấu chung với Táo cho mềm, bỏ phần cứng phơi khô, tính âm hàn chạy giỏi, rất tổn chân khí, nguyên khí không thực mạnh, có thủy thấp đình ứ, không nên dùng lầm (Bản Thảo Đồ Giải).

. Đại kích khí vị đắng hàn, tính thuần dương, đứng đầu thuốc xổ mạnh, trên tả phế khí dươí xổ thận thủy, nhưng kèm vị cay, đi bên cạnh kinh mạch, nơi nào cũng đến, ngâm nước có màu xanh, lại đi vào can đởm, nên sách đều ghi xổ được 12 loại thủy độc, cổ độc đầy bụng đau. Lý Thời Trân ghi rằng phàm chất đờm nhớt, theo khí lên xuống, không nơi nào là không đến, vào tâm thì mê khiếu mà động kinh, vào phế thì khiến tắc nghẽn mà thành ho đờm dính nhớt suyễn cấp, lạnh lưng. Vào can thì lưu lại thành tích tụ mà đau mạng sườn, nôn khan, khi nóng khi lạnh. Vào kinh lạc thì tê rần đau nhức. Vào gân xương thì cổ gáy ngực lưng, thắt lưng mạng sườn, tay chân đau lan ngầm. Ba nguyên nhân gây ra bệnh tật (nội, ngoại nhân và bất nội ngoại nhân) cũng lấy Khổng diên đơn chủ trị, bởi có Đại kích tiết được thủy thấp của tạng phủ, Cam toại hành được thủy thấp cuả kinh lạc. Bạch giới tử tán được đờm khí trong da, ngoài niêm mạc, ắt phải chứng thực, thực nhiệt, mạch thực mới được dùng, nếu không thì sẽ tả phế thương thận, hai người không ít. Nếu trúng độc của nó chỉ có Xương bồ mới giải được. Đại kích màu tím sản xuất ở Hàng Châu là loại tốt, loại sản xuất ở phía Bắc màu trắng, không nên dùng vào thuốc. Nấu với tương bỏ phần cứng rồi dùng, được Đại táo dùng chung thì không tổn thương Tỳ sợ Xương bồ, phản Cam thảo, mầm non gọi là Trạch tất cũng chữa về như Đại kích (Bản Thảo Cầu Chân).

. Khiết Cổ gọi Cam toại thuần dương còn Đại kích thì vị dương trong âm vậy ‘Bản Kinh’ ghi rằng Đại kích kiêm chủ chứng trúng phong, đau buốt ngoài da, ói mửa. Tô Tụng cũng có trị phong mề đay và chứng sưng chân do phong độc, chỉ có do Can gây ra bệnh mà dùng tới nó vậy. Can là con của Thận, phàm trong ngũ hành khí của mẹ thịnh thì phải nhanh chóng tả con của nó. Nay vì do con mà tiết tà khí của mẹ làm cho nó không còn lưu lại được. Tiền Trọng Dương chữa chứng đậu chẩn đen hãm vào thì dùng Bách Tường Cao. Dùng Đại kích để tả độc trong thận, không phải tả thận thủy, tức là trong Bản Kinh về chủ trị đầu tiên là chữa cổ độc, sách ‘Nhật Hoa Tử Bản Thảo’ cũng cho rằng nó có tác dụng tiết thuốc độc. Chẳng hạn như trong các bài thuốc Ngọc Khu Đơn, Tử Kim Đính, đều có thể giải độc. Biết dược vật này trục thủy, thủy tà này ắc đau cấp và tích tụ cái độc rất hại tới chân khí là  có thể dùng được, nếu không thì sẽ bị cái công trục quá mạnh nó gây hại thì thực là khó tránh. Hoặc là Bản kinh ghi chủ về trúng phong đau buốt ngoài da, đấy chính là chỉ về phong thấp mà nói, vốn bệnh này không tách rời thủy tà (Bản Thảo Cầu Nguyên)

+ Công năng của Đại kích là trục thủy hóa ẩm, thích hợp trong phù thủng đàm ẩm do thiệt chứng. Người có khí lựïc tốt thì nên dùng nó. Ấy là loại thuốc có tính độc mạnh nếu dùng không đúng thì tổn thương tới nguyên khí. Lý Thời Trân đã nói rằng: “Lợi cho người rất nhanh mà cũng làm thương tổn tới người, người suy nhược ốm yếu uống vào có thể thổ huyết, người thầy thuốc không thể không biết được” (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Cách tổ chức thông tin trên theo bạn là?

Rất thân thiện

Rất đẹp

Hợp lý

Khó sử dụng

Logo Tuệ Tĩnh Đường Liên Hoa
Logo Cơm Chay Dưỡng Sinh Liên Hoa
Các món ăn Liên Hoa quán